http://vneconomy.vn/20130121095725714P0C7/tra-co-tuc-tien-le-xau-khien-nha-dau-tu-that-vong.htm
Trả cổ tức, điều chỉnh giá tham chiếu, nhập thông số điều chỉnh index...có ai thống kê những lỗi kỹ thuật này gây thiệt hại bao nhiêu cho nhà đầu tư không.
Theo tôi vấn đề là VN chưa có những định nghĩa cơ bản, rõ ràng theo chuẩn mực quốc tế về những cái tưởng như tiểu tiết, kỹ thuật này. Nói nhanh là thiếu quan tâm tới thống kê. Dân Việt vốn tính ăn to nói lớn, đại khái mà.
Tui vẫn nói đùa với anh Vịnh, anh Long CTCK Âu Việt là công ty này mang bản sắc Việt nhất thị trường vì Âu Việt = Việt ẩu.
Để tham khảo mời xem:
http://www.world-exchanges.org/statistics/statistics-definitions
Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013
Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013
Kinh tế vỉa hè
http://phamnguyentruong.blogspot.com/2012/12/james-peron-tai-sao-nguoi-ngheo-lai-can.html#more
James Peron - Tại sao người nghèo lại cần quyền sở hữu hay quyền sở hữu cho người bán hàng rong có thể tạo ra thịnh vượng như thế nào
James Peron - Tại sao người nghèo lại cần quyền sở hữu hay quyền sở hữu cho người bán hàng rong có thể tạo ra thịnh vượng như thế nào
Phạm Nguyên Trường dịch
Ngay từ sáng sớm những dãy phố bên dưới căn phòng của tôi đã hoạt động nhộn nhịp như một tổ ong. Những quầy hàng nhỏ bé nằm rải rác khắp nơi, chen nhau trong từng khoảng trống trên vỉa hè. Những rổ chuối nhỏ, những túi khoai tây hay cà chua được bày bán khắp nơi. Những người bán báo bám lấy từng góc phố đông đúc. Những người bán hàng rong với mọi thứ sản phẩm có thể tưởng tượng được tiến hành công việc làm ăn của mình.
Chiều tà, hoạt động có giảm đi nhưng không chấm dứt hẳn. Những người bán rau đã trở về nhà. Bây giờ phố xá sặc mùi xúc xích nướng. Đi dọc phố sau khi trời đã tối được một lúc, tôi bị những người bán thức ăn vây quanh, họ hi vọng bán món hàng của mình cho những người tìm món ăn nhẹ vào buổi tối.
Những người bán hàng này là những thứ đầu tiên tôi nhớ lại khi rời châu Phi. Tôi không chỉ ở châu Phi, tôi đã ở trong những khu vực đông dân nhất trên lục địa này – đấy là khu Hillbrow ở Johannesburg. Những người bán hàng rong là thành phần chủ yếu của đời sống ở Hillbrow. Một số người thậm chí còn nói rằng chính họ làm cho nó suy sụp. Hiện nay Hillbrow là một khu ổ chuột, đầy gái điếm, bọn buôn bán ma túy, người nước ngoài rất đáng ngờ và những ngôi nhà đổ nát. Thế mà mới mười năn trước nó chính là trung tâm thời trang của Johannesburg.
Những người bán hàng rong bị lên án là nguyên nhân của sự suy sụp vì hàng quán của họ chiếm hết vỉa hè. Mỗi ngày những đống rác và thức ăn thiu thối mà họ bỏ lại càng cao thêm mãi lên. Không thể đi bộ trên vỉa hè vì tuần nào cũng có thêm những người bán hàng rong mới chen chúc nhau ở đó.
Cố gắng rất đáng trân trọng trong việc kiếm sống của người này lại trở thành khó chịu đối với người khác. Khi đời sống chính trị ở Nam Phi thay đổi, việc thực thi quy định của chính phủ về bán hàng rong cũng thay đổi theo. Thời gian đầu chính phủ mới tìm cách bợ đỡ những người bán hàng rong và không đưa ra quy định nào hết. Nhưng sau một thời gian, khu phố buôn bán trung tạm trở thành nơi không thể đi lại được nữa. Khách sạn sang trọng tên là Carlton Hotel đóng cửa và phòng nghỉ của cái khách sạn 50 tầng này đành bỏ không. Thậm chí thị trường chứng khoán Johannesburg cũng chạy sang khu vực thịnh vượng và sạch sẽ hơn của Sandton. Tôi sẽ không dám đi vào ban ngày nơi tôi từng một lần đi qua vào lúc nửa đêm. Khi khu vực trung tâm suy sụp, chính phủ lúng túng không biết nên nghiêm khắc hay không cần thực thi luật lệ về bán hàng rong nữa.
Nhưng dù người ta có gán cho những người bán hàng rong những tội lỗi gì đi nữa thì bạn có thật sự phê phán họ hay không? Trong một đất nước với trên 40 triệu dân, mà chỉ có dưới 25% người có việc làm thì luật lao động mới chỉ làm cho vấn đề trầm trọng thêm mà thôi. Vỉa hè là để dành cho người đi bộ chứ không phải cho hàng quán. Nhưng không có hàng quán thì con em những người bán hàng rong sẽ bị đói.
Sự giận dữ sẽ còn tiếp tục đổ lên đầu lên cổ những người bán hàng rong, và hiện nay cuộc xung đột vẫn còn tiếp tục vì ngay cả bây giờ vỉa hè vẫn được coi là tài sản công cộng hay là “của chung”. Các nhà kinh tế học đã và đang viết về “bi kịch của tài sản chung” và đây là một ví dụ nữa của việc tài sản chung bị bóc lột một cách quá mức, đến nỗi trở thành có hại cho tất cả mọi người.
Ngay cả vấn đề rác cũng là vấn đề của sở hữu chung. Nhà kinh tế học Walter Block đã từng nhận xét rằng vứt rác chỉ xảy ra ở những nơi thuộc tài sản công mà thôi. Chắc chắn là rác rưởi thường bị ném vào những chỗ thuộc tài sản riêng nhưng được mở ra cho mọi người cùng sử dụng – đấy là những chỗ như siêu thị, sân thể thao, rạp chiếu phim. Nhưng ở những chỗ đó, người chủ sở hữu không gọi cảnh sát tới phạt, mà đưa người tới dọn dẹp. Dọn dẹp là một phần của việc kinh doanh.
Nhưng thế giới của hàng rong lại không có quyền sở hữu, và vì vậy mà mới có nhiều vấn đề. Người buôn bán không có quyền sở hữu chỗ đặt quầy hàng và biết rằng họ có thể bị đuổi đi bất cứ lúc nào. Thỉnh thoảng lại có một đội cảnh sát tới đuổi, tịch thu hàng hóa và tịch thu cả hàng quán nữa. Kết quả là người bán hàng không quan tâm tới việc đầu tư vào hàng quán. Chỉ cần môt tấm bìa các tông trải ngay trên nền đất cũng xong. Thêm nữa, sẽ trở thành khoản đầu tư mà họ không thể kham nổi vì sợ mất.
Hernando de Soto cũng nhận thấy vấn đề tương tự như thế ở những người bán hàng rong ở Peru. Ông viết như sau: “Nguy cơ bị đuổi luôn luôn đe dọa những người bán hàng rong, nhất là khi bị tắc đường hay dưới áp lực của người dân sống trong khu vực. Nói một cách thực tế, điều đó ngăn chặn mọi ý định đầu tư dài hạn nhằm cải thiện khu vực, buộc những người bán hàng rong tiếp tục sử dụng những chiếc xe đẩy chứ không làm hàng quán bằng vật liệu xây dựng, có điện, nước, tủ lạnh, kho và những vật dụng khác đủ chứa số hàng hóa cần thiết. Xây dựng những tiện nghi như toilet, chỗ để xe hay vườn cây sẽ là việc làm không thiết thực”[1].
Giải pháp cho cuộc xung đột khi những quyền lợi cạnh tranh với nhau có ý định chộp giật những tài sản thuộc quyền sở hữu chung là tư nhân hóa. Như tôi đã nói bên trên, giải pháp thay thế còn lại duy nhất là những biện pháp có tính độc đoán: công an, phạt và tịch thu[2].
Quyền sở hữu có tác dụng
Trong một khu vực ở Johannesburg, biện pháp tư hữu đã được đem ra thử nghiệm và có tác dụng. Các chủ doanh nghiệp tư nhân đã thành lập những khu vực quản lí tư nhân nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh. Một khu vực như thế nằm ngay trên con đường trước khu nhà tôi, gọi là Ban quản lí Rosebank (RBMD).
Ở đây cũng có vấn đề hàng rong. Một đoạn phố nhỏ tên là Craddock chạy giữa siêu thị Rosebank và một vài cửa hàng nhỏ ở bên kia đường. Khoảng 140 người bán hàng rong chen chúc trong khu vực này. Mọi cố gắng nhằm ngăn chặn việc chiếm đoạt vỉa hè đều không đem lại kết quả vì khi lực lượng cưỡng chế vừa ra đi là những người bán hàng rong lại chiếm lấy càng nhiều chỗ càng tốt. Người đi bộ nhiều khi buộc phải bước xuống đường. Chỉ cần một người dừng lại để xem món đồ là lối đi đã không còn. Mỗi người bán hàng rong, trong khi hành động vì lợi ích cá nhân của mình, lại có những hành vi mà tất cả đều bị thiệt hại – tất cả, bởi vì không người nào có quyền sở hữu cái tài sản mà người đó đang sử dụng.
RBMD có giải pháp. Thứ nhất, dãy phố được nhượng lại cho họ. Con phố bị đóng cửa, không cho xe chạy qua nữa. Thứ hai, hầu như toàn bộ dãy phố được biến thành khu vực ngoài trời cho công chúng sử dụng. Một khu chợ hai tầng được xây dựng cho những người bán hàng rong và một công ty quản lí được thuê để cai quản công việc. Khoảng 60 người bán hàng rong được chọn vào bán trong tòa nhà này với khoản phí tối thiểu. Ngay bên dưới tòa nhà, nơi những người bán hàng rong từng sử dụng làm chỗ bán hàng, được RBMD dùng làm nơi biểu diễn của các diễn viên múa truyền thống. Các khách sạn ở đây đặt cả bàn ra ngoài vỉa hè. Khu vực từng xuýt bị lụn bại lại trở thành nơi thu hút khách du lịch.
RBMD còn thuê cả đội bảo vệ và vệ sinh viên nữa. An ninh được cải thiện, cả người mua, người bán hàng có môn bài và cả những người bán hàng rong đều được lợi. Ngoài ra, thành phố không còn phải lo dọn dẹp nữa vì RBMD đã quan tâm tới chuyện này rồi.
Trước đây, xung đột là không tránh khỏi. Nhưng khi những người bán hàng không có môn bài được đưa vào hệ thống thị trường với quyền sở hữu thì những người bán hàng có môn bài và không có môn bài có thể hợp tác với nhau vì quyền lợi chung.
Một cách nữa là dựng những quầy hàng trên hè phố. Người ta dành ra những khu vực riêng và người bán hàng được giao quyền sở hữu quầy hàng đó. Bằng cách bảo đảm cho người ta quyền sở hữu khu đất mà đằng nào người ta cũng sử dụng, thành phố có thể động viên những người bán hàng rong.
Theo luật hiện hành, quầy hàng là vốn chết: giá trị của nó không được sử dụng một cách đúng đắn vì không được pháp luật công nhận. Trong các nước thuộc thế giới thứ III, như de Soto đã chỉ rõ trong tác phẩm Bí ẩn của vốn (The Mystery of Capital), có một số lớn vốn chết[3]. Nhà chưa có quyền sở hữu, doanh nghiệp ngầm, những người bán hàng rong – tất cả đều là một phần vốn chết của thế giới thứ III. Chỉ cần công nhận về mặt pháp lí là một số tài sản khá lớn đã được hình thành chỉ sau một đêm, đấy là số tài sản mà người nghèo có thể sử dụng để mở rộng và tạo thêm tài sản mới.
Vị trí có thể sang nhượng
Quyền sở hữu tạo điều kiện cho người ta sang nhượng các vị trí. Những quy định về buôn bán hiện hành chẳng khác gì luật ăn cướp. Người bán hàng có thể sử dụng vị trí với điều kiện là người đó giành được nó trước khi những người khác kịp làm như thế. Nhưng với hệ thống pháp luật như thế, chuyển giao vị trí là việc khó khăn vì người bán hàng không có quyền sở hữu. Điều đó làm cho kinh tế trì trệ và những người bán hàng khó lợi dụng được ưu thế của vị trí buôn bán. Điều này là rõ ràng bởi vì không phải tất cả mọi chỗ đều có giá trị kinh tế như nhau cho tất cả những người bán hàng. Nếu những người bán hàng có quyền sở hữu thì họ sẽ có thể thu xếp việc sử dụng vị trí phù hợp với giá trị kinh tế cả nó. Giá trị một số vị trí sẽ tăng, những người bán hàng có lợi nhuận cao nhờ vị trí đặc thù, người bán hàng rong cũng thế. Ở Peru, de Soto phát hiện ra rằng quyền sở hữu bên ngoài hệ thống pháp luật hiện hành tạo điều kiện cho những người bán hàng rong bán vị trí của họ. Và cũng giống như mọi hàng hóa khác, vị trí cũng có giá khác nhau.
Tính linh hoạt trong sử dụng còn có nghĩa là một người có thể sử dụng vị trí vào buổi sáng, còn người khác thì sử dụng vào buổi chiều. De Soto đã nhận thấy hiện tượng như thế, ông viết:
Thí dụ, không có gì bất thường khi thấy một chỗ mà buổi sáng có người bán đồ điểm tâm, khoảng 9 hay 10 giờ thì lại có người bán nước ngọt, rồi đến trưa thì nhường cho người bán cơm trưa, sau đó, khoảng 4 giờ chiều lại được thay bằng người bán thuốc làm bằng thảo mộc, rồi đến tối lại được thay bằng người bán các món ăn Trung Hoa. Việc quay vòng như thế có thể biến một cái xe đẩy thành một tiệm lớn, góp phần tối đa hóa giá trị của nó. Tự mình, những người bán hàng khác nhau này chỉ cung cấp được một ít loại hàng hóa và dịch vụ. Nếu bán mãi một vài thứ không hiệu quả thì họ sẽ cải thiện vị trí bằng cách xoay vòng, làm cho cái xe đẩy đáp ứng được nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng suốt cả ngày, tức là tận dụng được giá trị thương mại của vị trí suốt hai mươi bốn giờ một ngày”[4]
Việc thiết lập quyền sở hữu còn làm thay đổi cả hành vi của những người bán hàng rong. Nó khuyến khích người ta cải thiện công việc kinh doanh của chính họ. Nó tạo điều kiện cho người ta đầu tư. Nó cho phép người ta chuyển nhượng quyền kinh doanh. Hệ thống quyền sở hữu như thế giúp biến những người bán hàng không có môn bài thành khu vực có môn bài. Buôn bán trên đường phố có thể trở thành nơi ươm mầm cho những doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng và đầy sức sống. Cả một tầng lớp doanh nhân có thể được hình thành, với tất cả những lợi ích mà họ có thể cống hiến cho xã hội.
Tiếp cận bằng quyền sở hữu đem lại không chỉ sự uyển chuyển mà còn hiệu quả hơn trong việc giữ gìn trật tự trong khu vực buôn bán. Ban quản lí tại chỗ biết rõ khu vực của mình. Họ biết ai cần hay ai không cần có mặt tại vị trí nào. Họ còn biết ngay khi người bán hàng này gây khó khăn cho người bán hàng kia và ai là người chịu trách nhiệm giải quyết. Nghĩa là, họ có khả năng quản lí những khu vực nhỏ, đặc thù trên đường phố. Những thành phố lớn với hàng chục triệu dân và hàng ngàn đường phố không thể cạnh tranh về mặt uyển chuyển với sự quản lí đã được địa phương hóa như thế.
Ở Lima, Peru, chính quyền thành phố đã phải công nhận rằng cấm buôn bán trên hè phố là việc làm vô ích. Sau đó, chính quyền thành phố quyết định tạo ra những khu chợ cho người bán hàng rong. Nhưng theo de Soto, chính quyền thành phố “không tìm cách giữ độc quyền trong việc xây chợ. Ngược lại, được sự đồng ý của chính quyền trung ương, những người muốn xây chợ còn được miễn thuế, thậm chí miễn cả phí xin phép xây dựng nữa, chính quyền thậm chí còn đưa ra những luật lệ có lợi cho các tổ chức của người buôn bán”. Kết quả là từ năm 1964 đến năm 1970, “hễ nhà nước xây một chợ thì những người buôn bán không có môn bài xây được bốn cái”[5].
Những người bán hàng rong đại diện cho cái mà de Soto gọi là “cuộc trường chinh” tới chủ nghĩa tư bản. Nếu bị chính quyền cản trở và quấy rầy thì quyền sở hữu không thể phát triển được. Kết quả sẽ là suy sụp và đổ nát. Nhưng nếu thay vì kiểm soát, chính phủ lại hành động như là người bảo vệ quyền sở hữu thì việc buôn bán trên đường phố sẽ là bước khởi đầu trên con đường dẫn tới thịnh vượng.
James Peron là chủ tịch dự án Laissez Faire Books và biên tập viên tạp chí Laissez Faire!
Nguồn: http://www.thefreemanonline.org/features/why-the-poor-need-property-rights/
Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013
Tái định cư kiểu Mỹ
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9m_nho_u%E1%BA%A5t_h%E1%BA%ADn
Đọc chùm nho nổi giận
Chùm nho uất hận
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chùm nho uất hận

Tác giả John Steinbeck
Minh họa bìa Elmer Hader
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Thể loại Tiểu thuyết
Nhà xuất bản The Viking Press-James Lloyd
Ngày phát hành 1939
Kiểu sách Sách in (Bìa cứng &Bìa mềm)
ISBN 0143039431
Chùm nho uất hận (tiếng Anh: The Grapes of Wrath), còn có tên trên bản dịch là Chùm nho nổi giận hay Chùm nho phẫn nộ, là tiểu thuyết của văn hào John Steinbeck, bao gồm 30 chương, phản ánh những biến đổi sâu sắc trong nông thôn nước Mỹ khoảng những năm đầu thế kỷ 20 dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của thời đại công nghiệp hóa. Với tác phẩm này, Steinbeck đã được trao giải Pulitzer vào năm 1940. Năm 1962, Steinbeck được trao giải Nobel Văn học, mà Chùm nho uất hận là sáng tác chính của Steinbeck được Viện Hàn lâm Thụy Điển đưa ra như một trong những lý do trao giải. Tạp chí Timeliệt kê tác phẩm này trong danh sách 100 tiểu thuyết Anh ngữ hay nhất từ năm 1923 đến nay[1]. Kết quả tuyển chọn dựa theo tiêu chí bình chọn Những kiệt tác thế giới được dịch ra chữ Hán do Bộ Văn hóa Trung Quốc tổ chức những năm 1980-1981[2] xếp Chùm nho uất hận là một trong 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới.
Mục lục [ẩn]
1 Hoàn cảnh sáng tác
2 Nội dung
3 Tựa đề
4 Giá trị tác phẩm
5 Bản dịch tiếng Việt
6 Phim chuyển thể
7 Chú thích
8 Tham khảo
9 Xem thêm
[sửa]Hoàn cảnh sáng tác
Bối cảnh hiện thực và nguyên nhân sáng tác Chùm nho uất hận có nguyên ủy từ cuối thập niên 20 đến thập niên 30 khi nền kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng cùng với sự thất nghiệp hàng loạt của công nhân thành thị, công nhân đồn điền và sự khó khăn trong cuộc sống của họ. Mùa thu 1937, John Steinbeck theo bước chân di cư của những người nông dân bang Oklahoma lưu lạc đến California, tận mắt chứng kiến nỗi gian nan khốn khổ của người dân khi bị ép buộc phải rời bỏ quê hương, đã đồng cảm và xúc động sâu xa sáng tác nên thiên truyện nổi tiếng Chùm nho uất hận mà ngay từ khi ra đời đã thu hút một lượng độc giả đông đảo. Lời đánh giá của Viện Khoa học hoàng gia Thụy Điển vào năm 1962 khi Steinbeck đoạt giải Nobel văn học: sáng tác thông qua chủ nghĩa hiện thực, giàu tưởng tượng, biểu hiện sự hài hước, giàu lòng cảm thông và sự quan sát nhạy bén đối với xã hội, ở mức độ lớn là gắn với tác phẩm này.
[sửa]Nội dung
Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.
Chùm nho uất hận đưa độc giả tới bang Oklahoma miền Đông nước Mỹ vào một mùa hè oi bức khi những gia đình tiểu chủ ở đây bị tịch thu đất đai và buộc phải rời bỏ ruộng đồng để di cư về miền Tây sinh sống.
Tiểu thuyết tập trung miêu tả quá trình di cư của gia đình Joad (hay còn gọi là gia đình nhà Tôm). Hạn hán nặng nề khiến lương thực không thu hoạch được và đất đai bị thôn tính hầu hết, những người nông dân không còn cách nào khác hơn để tiếp tục sinh sống, buộc phải rời bỏ quê hương. Chàng Tom mới ra tù cùng người nhà nhanh chóng chuẩn bị di cư đến California trên một chuyến xe cũ nát chở quá tải. Hành trình với muôn vàn gian khổ khốn khó khi xe bị hỏng liên tục, đói, khát, ông bà nội liên tiếp qua đời và người con trai, người con rể liên tục bỏ trốn, khi đến California cả nhà Tôm gồm 12 người đã chỉ còn 8 người.
Thế nhưng California hoàn toàn không phải là thiên đường trong mơ đối với gia đình Tom. California đã có hơn 300.000 dân di cư, và còn nhiều hơn như thế những kẻ đang muốn đi tìm một địa đàng trần gian. Những con đường lớn chen chúc những con người điên rồ, chạy vạy khắp nơi như đàn kiến, vỡ đầu sứt trán để tìm một công việc hèn mọn sinh nhai. Gia đình Tom cũng không nằm ngoài số đó, tiêu đến những đồng tiền cuối cùng trong túi, họ đã rất hối hận và tuyệt vọng vì dựa vào một tờ truyền đơn quảng cáo thiên đường vùng kinh tế mới mà nhẹ dạ đưa cả nhà đến miền Tây, và Tom một tháng trôi qua chỉ tìm được việc làm thuê trong vòng 5 ngày.
Vì sự khốn cùng trong hành trình, các nông phu đã kiên trì lập hợp đồng, đấu tranh cố định tiền lương, nhưng chủ thuê lại ăn nói úp mở và khiến những người đồng ý bị mắc mưu. Yêu cầu hợp tình hợp lý của các nông phu khiến ông chủ tức giận, họ quyết định gọi những sĩ quan cảnh sát cùng đi xe đến, bảo vệ lẫn nhau, ép buộc các nông phu hoặc đi theo chúng hoặc là phải đến nơi khác, và nếu các nông phu không nghe lời khuyến cáo chúng sẽ cho Cục vệ sinh đến dỡ bỏ điểm dừng chân của họ.
Chàng Tom bị cuốn vào cuộc kích thích trong cơn phẫn nộ của đám đông và trong lúc hỗn loạn Tom đã đánh viên sĩ quan cảnh sát. Tuy mục sư Casy đã che giấu cho gia đình Tom trốn chạy nhưng chính bản thân ông lại bị cảnh sát đưa đi. Gia đình Tom đã bất đắc dĩ phải đến xin việc ở một nông trường hái đào nhưng khi đến địa điểm này thì ở đó đã tập hợp được 5 gia đình mà mỗi gia đình do hai viên cảnh sát lái xe máy dẫn đường. Trên con đường tràn ngập các đồn bốt với cảnh sát súng đạn rầm rộ, với những người lao động đứng trên các rãnh cạn dọc đường tức tối kêu gào vung nắm đấm, và mỗi lần 6 gia đình, trong đó có gia đình Tom, đi qua trạm gác thì cửa liền đóng chặt. Cảnh tượng không giống như đếntrang trại mà như đến nhà ngục khiến Tom cảm thấy bất an.
Khi đến trang trại thu hái đào, hai người quản lý từ xe này sang xe khác hỏi những người trên xe có làm công hay không và chỉ cần có người đáp là chúng lập tức ghi tên họ lại bất chấp họ có đồng ý hay không, không cho phép họ hỏi han gì thêm mà thô bạo ra lệnh cho họ lập tức đi làm việc. Bà mẹ Tom cầm đồng tiền kiếm được trong ngày đến căng tin mua thức ăn nhưng thực phẩm trong cửa hàng tạp hóa này đều là những thứ hàng hóa kém chất lượng, quá đát mà các cửa hàng trong thị trấn không thể bán được, nhưng giá cả lại đắt gấp đôi ở thị trấn. Gia đình Tom, mặc dù rõ ràng chịu hai tầng áp bức, phía ông chủ đồn điền và phía giới đầu cơ thực phẩm, nhưng vì còn có việc để làm, có cái để ăn nên vẫn tạm hài lòng.
Khi mọi người đang ngủ yên trong đêm, Tom vẫn thao thức. Ban ngày khi họ đi vào cổng lớn thấy đâu đâu cũng có cảnh giới rất nghiêm ngặt, bên ngoài cổng xúm xít một đám người trông hết sức giận dữ khiến Tom cảm thấy sự việc rất kỳ quặc. Anh muốn làm rõ trắng đen nên nhân lúc nửa đêm liền lặng lẽ chui ra khỏi màn, đi ra ngoài. Vừa ra cổng lớn thì nòng súng và đèn pin của bọn cảnh vệ cùng nhất tề hướng về phía Tom hỏi xem anh định làm gì. Tom mượn cớ nói đi tắm mới khiến bọn cảnh vệ cho qua. Anh nghe loáng thoáng thấy hai cảnh vệ nói, các công nhân do bất mãn vì công xá mỗi ngày một giảm nên đã bãi công, làm kinh động cảnh sát trong hạt, cảnh sát muốn trừng trị những người cầm đầu gây ra chuyện đó nhất là muốn tóm được người đứng ra xúi bẩy gây chuyện có dáng người cao gầy. Nghe được những lời đó, Tom quyết định truyền tin cho những người nghèo khổ cùng làm việc đang rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm kia.
Nhanh chóng tìm ra những anh em bãi công, Tom chợt phát hiện ra điều ngoài dự đoán của anh là người đứng đầu cuộc bãi công chính là mục sư Casy, người từng cứu Tom trước kia. Casy nói với Tom rằng, nguyên nhân mọi người bãi công là do chủ nông trường khấu trừ tiền công, bắt đầu quyết định là mỗi giờ làm việc đáng 5 xu, nhưng do nguồn nhân lực nhiều lên khiến chủ thuê giảm tiền công xuống một nửa. Số tiền công ít ỏi này không đủ nuôi sống gia đình khiến các công nhân bèn tuyên bố bãi công. Tom cũng lập tức gia nhập cộng đồng bãi công. Chủ nông trại liền mời một loạt cảnh sát đến trấn áp.
Trong khi tranh đấu với bọn cảnh sát, Tom đã lỡ tay giết chết một viên cảnh sát, kẻ đã đánh chết người tổ chức bãi công là mục sư Casy. Anh đành phải trốn chạy lần nữa khi bám theo con suối nhỏ chạy đến một cánh rừng lúp xúp đằng xa.
Gia đình Tom lại một lần nữa chạy trốn khỏi trại trồng đào để rồi sau đó xin được việc làm tại một đồn điền trồng bông, dù bà mẹ phải đành lòng giấu Tom vào chiếc cống ngoài bụi rậm còn cả nhà xuống đồng, đêm về tạm trú trong một toa tàu bỏ hoang. Thế nhưng công việc trồng bông ở đồn điền chẳng mấy chốc đã kết thúc, vừa nhận chút tiền công ít ỏi gia đình Tom đã phải đối mặt với nỗi lo hết việc. Rồi mùa mưa bão thình lình ập đến, đập chắn bị vỡ và nước tràn lên cả sàn tàu.
Giữa lúc khốn khó thì cô con gái của gia đình là Rozahan lại chuyển dạ, nhưng vì đẻ non nên đứa bé bị chết. Ngớt mưa, mọi người quyết định tìm đến nơi cao ráo hơn. Cả gia đình vừa đói, vừa ngấm lạnh và gần như tuyệt vọng vì kiệt sức cố vượt qua cánh đồng nước đến trú ở một nhà kho. Họ bắt gặp tại đây hai người đàn ông, một già và một trẻ, người già đã gần như lả đi vì sáu ngày nhịn đói. Thấy Rozahan bị ướt lạnh, anh thanh niên nhường chiếc chăn duy nhất của mình cho cô, còn cô khi nhìn cảnh ngộ của ông già đã vượt qua những rụt rè bản tính. Động lòng thương cảm, với sự khuyến khích của mẹ, Rozahan đã đi đến một quyết định mạnh bạo là ghé bầu vú căng sữa của mình vào miệng ông già đang kiệt sức.
[sửa]Tựa đề
Steinbeck gặp khó khăn trong việc chọn tựa đề cho cuốn tiểu thuyết của mìnb. Tựa đề Chùm nho uất hận do Carol Steinbeck, vợ của nhà văn đề nghị, xem có vẻ phù hợp với nội dung hơn bất kỳ tựa đề nào mà nhà văn nghĩ ra. Tựa đề này lấy ý từ lời của bài thánh ca "The Battle Hymn of the Republic" do Julia Ward Howe sáng tác. Lời câu thánh ca đó như sau:
Mắt tôi đã thấy vinh quang của sự hiện đến của Chúa:
Ngài sẽ chà đạp những vườn nho nơi chứa những chùm nho uất hận;
Ngài tuốt gươm kinh hoàng lấp lánh ánh tang tóc:
Chân lý của Ngài đang đến.
Lời thánh ca này lại dựa trên phân đoạn Thánh Kinh trong sách Khải Huyền 14:19-20, trình bày khải thị về sự xét đoán thiên thượng và giải cứu khỏi sự áp bức trong ngày phán xét cuối cùng.
Thiên sứ quăng lưỡi liềm xuống đất, cắt vườn nho ở đất và ném nho vào thùng lớn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Thùng ấy phải giày đạp tại ngoài thành; rồi có huyết ở thùng chảy ra, huyết đó lên đến chỗ khớp ngựa, dài một quãng là một ngàn sáu trăm dặm. [3]
Như chúng ta có thể tiên đoán, hình ảnh gợi lên từ tựa đề là một biểu tượng quan trọng trong việc phát triển câu chuyện và chủ đề lớn của cuốn tiểu thuyết: Những áp bức kinh khủng từ những lò ép rượu nho tại Dust Bowl sẽ tạo nên uất hận kinh hoàng nhưng cũng đem lại sự giải phóng những người làm công qua sự hợp tác của họ.
[sửa]Giá trị tác phẩm
Chùm nho uất hận lấy bối cảnh không gian tương đối hẹp, hành trình từ Oklahoma đến California cũng là quá trình đi xuống đáy cùng xã hội của một gia đình nông dân Mỹ, gia đình Joad (Tom). Nhưng tác phẩm đồng thời cũng phản ánh một cuộc di dân khổng lồ, nạn thất nghiệp khủng khiếp trong tầng lớp nông dân và tiểu chủ Mỹ trước sức phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật với sự thay thế sức lao động con người của máy móc hiện đại, một bức tranh sống động về hiện thực đời sống của người nông phu Mỹ bị phá sản giãy giụa để sinh tồn, cũng như không khí hỗn loạn của khủng hoảng kinh tế và sự tước đoạt dã man thành quả lao động của con người trong xã hội Mỹ trước Đại chiến thế giới thứ 2.
Phản ánh một giai đoạn ngắn ngủi trong lịch sử Mỹ và trên địa điểm cụ thể là bang California, nhưng ý nghĩa tác phẩm đã vượt xa hơn khi mang ý nghĩa của một sử thi bi kịch về nhân dân Mỹ. Chùm nho uất hận đã trở thành tiếng kêu cứu khẩn thiết của nhân dân lao động bị thất nghiệp, sống trong những căn lều lụp xụp trên khắp đất nước. Mặc dù có sức lao động phi thường và biết hy vọng vào tương lai, nhưng cuộc đời của họ đang ngày càng dấn sâu hơn vào con đường khổ ải[4].
Tuy nhiên, Chùm nho uất hận không chỉ chân thực phản ánh sự tàn khốc của một thời kỳ lịch sử Mỹ quốc, mà còn chú trọng trình bày tình cảm đối với quê hương, sự lưu luyến đối với đất đai, tâm lý chống đối cách mạng công nghiệp, tình cảm đối địch với bộ máy quốc gia cảnh sát và nhà ngục. Tác phẩm cũng đồng thời phản ánh phương diện lạnh lùng khắc nghiệt của cách mạng công nghiệp.
Tiểu thuyết tập trung mô tả hai hình tượng Tom và Casy. Tôm tính tình thô bạo nhưng dám phản kháng và đấu tranh, cuối cùng tìm được hướng đi cho bản thân qua sự kết hợp tự nguyện vận mệnh của cá nhân với vận mệnh của những người cùng khổ. Casy là một mục sư lang thang, chống lại Thượng đế của ông và vứt bỏ giáo chức để quan tâm đến nỗi cực khổ của nhân dân thời đó, đã hy sinh vì tổ chức cuộc bãi công.
Về mặt nghệ thuật, Chùm nho uất hận thể hiện một văn phong già dặn và giàu xúc cảm. Bằng tính chân thực và tính sâu sắc to lớn, bút pháp tả thực có sức tố cáo mạnh mẽ, tác phẩm đã lôi cuốn người đọc ngay từ khi được xuất bản lần đầu tại Oklahoma với lượng phát hành vượt trên cả Cuốn theo chiều gió[5] và rất nhanh chóng được dựng thành phim, gây nên nhiều dư luận trái ngược về ý nghĩa của tác phẩm[6] đối với độc giả đương thời bao gồm cả những ông chủ tư bản giàu sụ và những người làm thuê khốn cùng.
[sửa]Bản dịch tiếng Việt
Chùm nho uất hận, 2 tập, Võ Lang dịch, Nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn 1972.
Chùm nho phẫn nộ, Phạm Thuỷ Ba dịch. Bản in lần đầu 2 tập tại Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội (tập 1 có 410 trang khổ 19 cm in năm 1975, tập 2 có 408 trang khổ 19 in năm 1989), tái bản tại Nhà xuất bản hội Nhà văn năm 1994. Được gộp thành một tập duy nhất với 940 trang khổ 19 cm in tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2000. Nhà xuất bản Văn học tái bản năm 2007.
[sửa]Phim chuyển thể
Phim năm 1940 do John Ford đạo diễn, các diễn viên Henry Fonda, Jane Darwell, John Carradine...Phim giành 2 giải Oscar, được chỉ định 5 giải khác, và giành một số giải thưởng khác, nằm trong 100 phim hay nhất của Viện điện ảnh Mỹ.
[sửa]Chú thích
^ Lev Grossman (5 tháng 12 năm 2005). "All-Time 100 Novels: The Grapes of Wrath". Tạp chí Time. Truy cập 30 tháng 12 năm 2007.
^ 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới, chủ biên Đặng Thục Sinh, Trương Tú Bình, Dương Tuệ Mai, bản dịch của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002., trang 5
^ United Bible Societies, Thánh Kinh Tin Lành, 1926
^ Tóm tắt theo Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, H. 2005. Trang 300.
^ 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới, sách đã dẫn, trang 549.
^ Từ điển văn học (bộ mới), sách đã dẫn, trang 300.
[sửa]Tham khảo
Mục từ Chùm nho nổi giận, trong cuốn 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới, chủ biên Đặng Thục Sinh, Trương Tú Bình, Dương Tuệ Mai, bản dịch của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002. Trang 545-550.
Mục từ Chùm nho nổi giận, trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2005. Trang 299-300.
[sửa]Xem thêm
100 cuốn sách hay nhất thế kỷ 20 của Le Monde
Đọc chùm nho nổi giận
Chùm nho uất hận
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chùm nho uất hận
Tác giả John Steinbeck
Minh họa bìa Elmer Hader
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Thể loại Tiểu thuyết
Nhà xuất bản The Viking Press-James Lloyd
Ngày phát hành 1939
Kiểu sách Sách in (Bìa cứng &Bìa mềm)
ISBN 0143039431
Chùm nho uất hận (tiếng Anh: The Grapes of Wrath), còn có tên trên bản dịch là Chùm nho nổi giận hay Chùm nho phẫn nộ, là tiểu thuyết của văn hào John Steinbeck, bao gồm 30 chương, phản ánh những biến đổi sâu sắc trong nông thôn nước Mỹ khoảng những năm đầu thế kỷ 20 dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của thời đại công nghiệp hóa. Với tác phẩm này, Steinbeck đã được trao giải Pulitzer vào năm 1940. Năm 1962, Steinbeck được trao giải Nobel Văn học, mà Chùm nho uất hận là sáng tác chính của Steinbeck được Viện Hàn lâm Thụy Điển đưa ra như một trong những lý do trao giải. Tạp chí Timeliệt kê tác phẩm này trong danh sách 100 tiểu thuyết Anh ngữ hay nhất từ năm 1923 đến nay[1]. Kết quả tuyển chọn dựa theo tiêu chí bình chọn Những kiệt tác thế giới được dịch ra chữ Hán do Bộ Văn hóa Trung Quốc tổ chức những năm 1980-1981[2] xếp Chùm nho uất hận là một trong 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới.
Mục lục [ẩn]
1 Hoàn cảnh sáng tác
2 Nội dung
3 Tựa đề
4 Giá trị tác phẩm
5 Bản dịch tiếng Việt
6 Phim chuyển thể
7 Chú thích
8 Tham khảo
9 Xem thêm
[sửa]Hoàn cảnh sáng tác
Bối cảnh hiện thực và nguyên nhân sáng tác Chùm nho uất hận có nguyên ủy từ cuối thập niên 20 đến thập niên 30 khi nền kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng cùng với sự thất nghiệp hàng loạt của công nhân thành thị, công nhân đồn điền và sự khó khăn trong cuộc sống của họ. Mùa thu 1937, John Steinbeck theo bước chân di cư của những người nông dân bang Oklahoma lưu lạc đến California, tận mắt chứng kiến nỗi gian nan khốn khổ của người dân khi bị ép buộc phải rời bỏ quê hương, đã đồng cảm và xúc động sâu xa sáng tác nên thiên truyện nổi tiếng Chùm nho uất hận mà ngay từ khi ra đời đã thu hút một lượng độc giả đông đảo. Lời đánh giá của Viện Khoa học hoàng gia Thụy Điển vào năm 1962 khi Steinbeck đoạt giải Nobel văn học: sáng tác thông qua chủ nghĩa hiện thực, giàu tưởng tượng, biểu hiện sự hài hước, giàu lòng cảm thông và sự quan sát nhạy bén đối với xã hội, ở mức độ lớn là gắn với tác phẩm này.
[sửa]Nội dung
Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.
Chùm nho uất hận đưa độc giả tới bang Oklahoma miền Đông nước Mỹ vào một mùa hè oi bức khi những gia đình tiểu chủ ở đây bị tịch thu đất đai và buộc phải rời bỏ ruộng đồng để di cư về miền Tây sinh sống.
Tiểu thuyết tập trung miêu tả quá trình di cư của gia đình Joad (hay còn gọi là gia đình nhà Tôm). Hạn hán nặng nề khiến lương thực không thu hoạch được và đất đai bị thôn tính hầu hết, những người nông dân không còn cách nào khác hơn để tiếp tục sinh sống, buộc phải rời bỏ quê hương. Chàng Tom mới ra tù cùng người nhà nhanh chóng chuẩn bị di cư đến California trên một chuyến xe cũ nát chở quá tải. Hành trình với muôn vàn gian khổ khốn khó khi xe bị hỏng liên tục, đói, khát, ông bà nội liên tiếp qua đời và người con trai, người con rể liên tục bỏ trốn, khi đến California cả nhà Tôm gồm 12 người đã chỉ còn 8 người.
Thế nhưng California hoàn toàn không phải là thiên đường trong mơ đối với gia đình Tom. California đã có hơn 300.000 dân di cư, và còn nhiều hơn như thế những kẻ đang muốn đi tìm một địa đàng trần gian. Những con đường lớn chen chúc những con người điên rồ, chạy vạy khắp nơi như đàn kiến, vỡ đầu sứt trán để tìm một công việc hèn mọn sinh nhai. Gia đình Tom cũng không nằm ngoài số đó, tiêu đến những đồng tiền cuối cùng trong túi, họ đã rất hối hận và tuyệt vọng vì dựa vào một tờ truyền đơn quảng cáo thiên đường vùng kinh tế mới mà nhẹ dạ đưa cả nhà đến miền Tây, và Tom một tháng trôi qua chỉ tìm được việc làm thuê trong vòng 5 ngày.
Vì sự khốn cùng trong hành trình, các nông phu đã kiên trì lập hợp đồng, đấu tranh cố định tiền lương, nhưng chủ thuê lại ăn nói úp mở và khiến những người đồng ý bị mắc mưu. Yêu cầu hợp tình hợp lý của các nông phu khiến ông chủ tức giận, họ quyết định gọi những sĩ quan cảnh sát cùng đi xe đến, bảo vệ lẫn nhau, ép buộc các nông phu hoặc đi theo chúng hoặc là phải đến nơi khác, và nếu các nông phu không nghe lời khuyến cáo chúng sẽ cho Cục vệ sinh đến dỡ bỏ điểm dừng chân của họ.
Chàng Tom bị cuốn vào cuộc kích thích trong cơn phẫn nộ của đám đông và trong lúc hỗn loạn Tom đã đánh viên sĩ quan cảnh sát. Tuy mục sư Casy đã che giấu cho gia đình Tom trốn chạy nhưng chính bản thân ông lại bị cảnh sát đưa đi. Gia đình Tom đã bất đắc dĩ phải đến xin việc ở một nông trường hái đào nhưng khi đến địa điểm này thì ở đó đã tập hợp được 5 gia đình mà mỗi gia đình do hai viên cảnh sát lái xe máy dẫn đường. Trên con đường tràn ngập các đồn bốt với cảnh sát súng đạn rầm rộ, với những người lao động đứng trên các rãnh cạn dọc đường tức tối kêu gào vung nắm đấm, và mỗi lần 6 gia đình, trong đó có gia đình Tom, đi qua trạm gác thì cửa liền đóng chặt. Cảnh tượng không giống như đếntrang trại mà như đến nhà ngục khiến Tom cảm thấy bất an.
Khi đến trang trại thu hái đào, hai người quản lý từ xe này sang xe khác hỏi những người trên xe có làm công hay không và chỉ cần có người đáp là chúng lập tức ghi tên họ lại bất chấp họ có đồng ý hay không, không cho phép họ hỏi han gì thêm mà thô bạo ra lệnh cho họ lập tức đi làm việc. Bà mẹ Tom cầm đồng tiền kiếm được trong ngày đến căng tin mua thức ăn nhưng thực phẩm trong cửa hàng tạp hóa này đều là những thứ hàng hóa kém chất lượng, quá đát mà các cửa hàng trong thị trấn không thể bán được, nhưng giá cả lại đắt gấp đôi ở thị trấn. Gia đình Tom, mặc dù rõ ràng chịu hai tầng áp bức, phía ông chủ đồn điền và phía giới đầu cơ thực phẩm, nhưng vì còn có việc để làm, có cái để ăn nên vẫn tạm hài lòng.
Khi mọi người đang ngủ yên trong đêm, Tom vẫn thao thức. Ban ngày khi họ đi vào cổng lớn thấy đâu đâu cũng có cảnh giới rất nghiêm ngặt, bên ngoài cổng xúm xít một đám người trông hết sức giận dữ khiến Tom cảm thấy sự việc rất kỳ quặc. Anh muốn làm rõ trắng đen nên nhân lúc nửa đêm liền lặng lẽ chui ra khỏi màn, đi ra ngoài. Vừa ra cổng lớn thì nòng súng và đèn pin của bọn cảnh vệ cùng nhất tề hướng về phía Tom hỏi xem anh định làm gì. Tom mượn cớ nói đi tắm mới khiến bọn cảnh vệ cho qua. Anh nghe loáng thoáng thấy hai cảnh vệ nói, các công nhân do bất mãn vì công xá mỗi ngày một giảm nên đã bãi công, làm kinh động cảnh sát trong hạt, cảnh sát muốn trừng trị những người cầm đầu gây ra chuyện đó nhất là muốn tóm được người đứng ra xúi bẩy gây chuyện có dáng người cao gầy. Nghe được những lời đó, Tom quyết định truyền tin cho những người nghèo khổ cùng làm việc đang rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm kia.
Nhanh chóng tìm ra những anh em bãi công, Tom chợt phát hiện ra điều ngoài dự đoán của anh là người đứng đầu cuộc bãi công chính là mục sư Casy, người từng cứu Tom trước kia. Casy nói với Tom rằng, nguyên nhân mọi người bãi công là do chủ nông trường khấu trừ tiền công, bắt đầu quyết định là mỗi giờ làm việc đáng 5 xu, nhưng do nguồn nhân lực nhiều lên khiến chủ thuê giảm tiền công xuống một nửa. Số tiền công ít ỏi này không đủ nuôi sống gia đình khiến các công nhân bèn tuyên bố bãi công. Tom cũng lập tức gia nhập cộng đồng bãi công. Chủ nông trại liền mời một loạt cảnh sát đến trấn áp.
Trong khi tranh đấu với bọn cảnh sát, Tom đã lỡ tay giết chết một viên cảnh sát, kẻ đã đánh chết người tổ chức bãi công là mục sư Casy. Anh đành phải trốn chạy lần nữa khi bám theo con suối nhỏ chạy đến một cánh rừng lúp xúp đằng xa.
Gia đình Tom lại một lần nữa chạy trốn khỏi trại trồng đào để rồi sau đó xin được việc làm tại một đồn điền trồng bông, dù bà mẹ phải đành lòng giấu Tom vào chiếc cống ngoài bụi rậm còn cả nhà xuống đồng, đêm về tạm trú trong một toa tàu bỏ hoang. Thế nhưng công việc trồng bông ở đồn điền chẳng mấy chốc đã kết thúc, vừa nhận chút tiền công ít ỏi gia đình Tom đã phải đối mặt với nỗi lo hết việc. Rồi mùa mưa bão thình lình ập đến, đập chắn bị vỡ và nước tràn lên cả sàn tàu.
Giữa lúc khốn khó thì cô con gái của gia đình là Rozahan lại chuyển dạ, nhưng vì đẻ non nên đứa bé bị chết. Ngớt mưa, mọi người quyết định tìm đến nơi cao ráo hơn. Cả gia đình vừa đói, vừa ngấm lạnh và gần như tuyệt vọng vì kiệt sức cố vượt qua cánh đồng nước đến trú ở một nhà kho. Họ bắt gặp tại đây hai người đàn ông, một già và một trẻ, người già đã gần như lả đi vì sáu ngày nhịn đói. Thấy Rozahan bị ướt lạnh, anh thanh niên nhường chiếc chăn duy nhất của mình cho cô, còn cô khi nhìn cảnh ngộ của ông già đã vượt qua những rụt rè bản tính. Động lòng thương cảm, với sự khuyến khích của mẹ, Rozahan đã đi đến một quyết định mạnh bạo là ghé bầu vú căng sữa của mình vào miệng ông già đang kiệt sức.
[sửa]Tựa đề
Steinbeck gặp khó khăn trong việc chọn tựa đề cho cuốn tiểu thuyết của mìnb. Tựa đề Chùm nho uất hận do Carol Steinbeck, vợ của nhà văn đề nghị, xem có vẻ phù hợp với nội dung hơn bất kỳ tựa đề nào mà nhà văn nghĩ ra. Tựa đề này lấy ý từ lời của bài thánh ca "The Battle Hymn of the Republic" do Julia Ward Howe sáng tác. Lời câu thánh ca đó như sau:
Mắt tôi đã thấy vinh quang của sự hiện đến của Chúa:
Ngài sẽ chà đạp những vườn nho nơi chứa những chùm nho uất hận;
Ngài tuốt gươm kinh hoàng lấp lánh ánh tang tóc:
Chân lý của Ngài đang đến.
Lời thánh ca này lại dựa trên phân đoạn Thánh Kinh trong sách Khải Huyền 14:19-20, trình bày khải thị về sự xét đoán thiên thượng và giải cứu khỏi sự áp bức trong ngày phán xét cuối cùng.
Thiên sứ quăng lưỡi liềm xuống đất, cắt vườn nho ở đất và ném nho vào thùng lớn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Thùng ấy phải giày đạp tại ngoài thành; rồi có huyết ở thùng chảy ra, huyết đó lên đến chỗ khớp ngựa, dài một quãng là một ngàn sáu trăm dặm. [3]
Như chúng ta có thể tiên đoán, hình ảnh gợi lên từ tựa đề là một biểu tượng quan trọng trong việc phát triển câu chuyện và chủ đề lớn của cuốn tiểu thuyết: Những áp bức kinh khủng từ những lò ép rượu nho tại Dust Bowl sẽ tạo nên uất hận kinh hoàng nhưng cũng đem lại sự giải phóng những người làm công qua sự hợp tác của họ.
[sửa]Giá trị tác phẩm
Chùm nho uất hận lấy bối cảnh không gian tương đối hẹp, hành trình từ Oklahoma đến California cũng là quá trình đi xuống đáy cùng xã hội của một gia đình nông dân Mỹ, gia đình Joad (Tom). Nhưng tác phẩm đồng thời cũng phản ánh một cuộc di dân khổng lồ, nạn thất nghiệp khủng khiếp trong tầng lớp nông dân và tiểu chủ Mỹ trước sức phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật với sự thay thế sức lao động con người của máy móc hiện đại, một bức tranh sống động về hiện thực đời sống của người nông phu Mỹ bị phá sản giãy giụa để sinh tồn, cũng như không khí hỗn loạn của khủng hoảng kinh tế và sự tước đoạt dã man thành quả lao động của con người trong xã hội Mỹ trước Đại chiến thế giới thứ 2.
Phản ánh một giai đoạn ngắn ngủi trong lịch sử Mỹ và trên địa điểm cụ thể là bang California, nhưng ý nghĩa tác phẩm đã vượt xa hơn khi mang ý nghĩa của một sử thi bi kịch về nhân dân Mỹ. Chùm nho uất hận đã trở thành tiếng kêu cứu khẩn thiết của nhân dân lao động bị thất nghiệp, sống trong những căn lều lụp xụp trên khắp đất nước. Mặc dù có sức lao động phi thường và biết hy vọng vào tương lai, nhưng cuộc đời của họ đang ngày càng dấn sâu hơn vào con đường khổ ải[4].
Tuy nhiên, Chùm nho uất hận không chỉ chân thực phản ánh sự tàn khốc của một thời kỳ lịch sử Mỹ quốc, mà còn chú trọng trình bày tình cảm đối với quê hương, sự lưu luyến đối với đất đai, tâm lý chống đối cách mạng công nghiệp, tình cảm đối địch với bộ máy quốc gia cảnh sát và nhà ngục. Tác phẩm cũng đồng thời phản ánh phương diện lạnh lùng khắc nghiệt của cách mạng công nghiệp.
Tiểu thuyết tập trung mô tả hai hình tượng Tom và Casy. Tôm tính tình thô bạo nhưng dám phản kháng và đấu tranh, cuối cùng tìm được hướng đi cho bản thân qua sự kết hợp tự nguyện vận mệnh của cá nhân với vận mệnh của những người cùng khổ. Casy là một mục sư lang thang, chống lại Thượng đế của ông và vứt bỏ giáo chức để quan tâm đến nỗi cực khổ của nhân dân thời đó, đã hy sinh vì tổ chức cuộc bãi công.
Về mặt nghệ thuật, Chùm nho uất hận thể hiện một văn phong già dặn và giàu xúc cảm. Bằng tính chân thực và tính sâu sắc to lớn, bút pháp tả thực có sức tố cáo mạnh mẽ, tác phẩm đã lôi cuốn người đọc ngay từ khi được xuất bản lần đầu tại Oklahoma với lượng phát hành vượt trên cả Cuốn theo chiều gió[5] và rất nhanh chóng được dựng thành phim, gây nên nhiều dư luận trái ngược về ý nghĩa của tác phẩm[6] đối với độc giả đương thời bao gồm cả những ông chủ tư bản giàu sụ và những người làm thuê khốn cùng.
[sửa]Bản dịch tiếng Việt
Chùm nho uất hận, 2 tập, Võ Lang dịch, Nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn 1972.
Chùm nho phẫn nộ, Phạm Thuỷ Ba dịch. Bản in lần đầu 2 tập tại Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội (tập 1 có 410 trang khổ 19 cm in năm 1975, tập 2 có 408 trang khổ 19 in năm 1989), tái bản tại Nhà xuất bản hội Nhà văn năm 1994. Được gộp thành một tập duy nhất với 940 trang khổ 19 cm in tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2000. Nhà xuất bản Văn học tái bản năm 2007.
[sửa]Phim chuyển thể
Phim năm 1940 do John Ford đạo diễn, các diễn viên Henry Fonda, Jane Darwell, John Carradine...Phim giành 2 giải Oscar, được chỉ định 5 giải khác, và giành một số giải thưởng khác, nằm trong 100 phim hay nhất của Viện điện ảnh Mỹ.
[sửa]Chú thích
^ Lev Grossman (5 tháng 12 năm 2005). "All-Time 100 Novels: The Grapes of Wrath". Tạp chí Time. Truy cập 30 tháng 12 năm 2007.
^ 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới, chủ biên Đặng Thục Sinh, Trương Tú Bình, Dương Tuệ Mai, bản dịch của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002., trang 5
^ United Bible Societies, Thánh Kinh Tin Lành, 1926
^ Tóm tắt theo Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, H. 2005. Trang 300.
^ 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới, sách đã dẫn, trang 549.
^ Từ điển văn học (bộ mới), sách đã dẫn, trang 300.
[sửa]Tham khảo
Mục từ Chùm nho nổi giận, trong cuốn 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới, chủ biên Đặng Thục Sinh, Trương Tú Bình, Dương Tuệ Mai, bản dịch của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002. Trang 545-550.
Mục từ Chùm nho nổi giận, trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2005. Trang 299-300.
[sửa]Xem thêm
100 cuốn sách hay nhất thế kỷ 20 của Le Monde
Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012
Mười năm tình cũ
10 năm không gặp tưởng tình đã cũ
Mười năm là một quãng thời gian kinh khủng. Bạn hãy để ý:
- Khoảng 2/3 số bạn bè giao tiếp cách đây 10y hầu như không gặp nữa, cứ như là biến mất trên quãng đời này.
- Bạn gần như là người khác vì các tế bào chết đi - sinh ra...
- Cách 10y ai cầm Nokia là ngon, giờ Nokia phải bán cả trụ sở chính để trả nợ. Apple sau khi thoát chết do Microsoft cứu lại trở về chói lọi.
- Tới 65, sau năm 54 được 10 năm thì MB xài hết của từ thời Pháp nên hàng tiêu dùng khan hiếm
- Tương tự, tới 85 thì đói quá, bắt buộc phải cởi trói phá rào đổi mới
Rồi lý do nào mà từ
10 quả trứng tròn, mẹ gà ấp ủ
Hôm nay ra đủ 10 chú gà con
Tới tình cảnh như vầy
Về nuôi hắn đẻ ra mười trứng
Một trứng: ung
Hai trứng: ung
Ba trứng: ung
Bốn trứng: ung
Năm trứng: ung
Sáu trứng: ung
Bảy trứng: ung
Còn ba trứng nở ra ba con:
Con: diều tha
Con: quạ bắt
Con: mặt cắt xơi
Cái này mà phiên ra thành chuyện nhân sự, công chức thì sẽ thấy khối tương đồng
Kỳ này, mời các bạn theo dõi chu kỳ 10y trong kinh tế (http://dainamaxtribune.blogspot.com/2012/12/my-mat-mot-thap-nien.html)
Mỹ Mất Một Thập Niên?
Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 121219
Tiếp tục loạt tổng kết về tình hình kinh tế năm 2012, chúng ta khởi đầu với nền kinh tế giữ vị trí số một của thế giới là Hoa Kỳ với tổng sản lượng trị giá chừng 22% sức sản xuất của toàn cầu.
Nếu nhìn trong bối cảnh dài của nhiều thập niên thì ta không ngạc nhiên về sự thể đó. Hoa Kỳ đang trải qua giai đoạn chuyển hướng với yêu cầu cải tổ toàn bộ cơ chế chi thu trong cả chục năm nên sẽ còn gặp nhiều khó khăn làm dư luận bất bình, thất vọng.
Trước hết, như các nền kinh tế công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật, Hoa Kỳ đã vay mượn quá sức và đến hồi trả nợ. Thời điểm của việc trả nợ đó bắt đầu từ cuối năm 2007.
Khi xảy ra cách nay đúng năm năm thì người ta lầm hậu quả là vụ bể bóng đầu tư địa ốc và khủng hoảng tài chính ngân hàng. Nguyên nhân là đi vay và phải trả nợ vì thế mới bị khủng hoảng và suy trầm kinh tế.
Kỳ này, mời các bạn theo dõi chu kỳ 10y trong kinh tế (http://dainamaxtribune.blogspot.com/2012/12/my-mat-mot-thap-nien.html)
Mỹ Mất Một Thập Niên?
Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 121219
Tiếp tục loạt tổng kết về tình hình kinh tế năm 2012, chúng ta khởi đầu với nền kinh tế giữ vị trí số một của thế giới là Hoa Kỳ với tổng sản lượng trị giá chừng 22% sức sản xuất của toàn cầu.
Nếu nhìn trong bối cảnh dài của nhiều thập niên thì ta không ngạc nhiên về sự thể đó. Hoa Kỳ đang trải qua giai đoạn chuyển hướng với yêu cầu cải tổ toàn bộ cơ chế chi thu trong cả chục năm nên sẽ còn gặp nhiều khó khăn làm dư luận bất bình, thất vọng.
Trước hết, như các nền kinh tế công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật, Hoa Kỳ đã vay mượn quá sức và đến hồi trả nợ. Thời điểm của việc trả nợ đó bắt đầu từ cuối năm 2007.
Khi xảy ra cách nay đúng năm năm thì người ta lầm hậu quả là vụ bể bóng đầu tư địa ốc và khủng hoảng tài chính ngân hàng. Nguyên nhân là đi vay và phải trả nợ vì thế mới bị khủng hoảng và suy trầm kinh tế.
Khi kinh tế bị suy trầm và phải trả nợ cả công lẫn tư, giới lãnh đạo rơi vào thế kẹt là làm sao vừa trả nợ vừa kích cầu để ra khỏi nạn suy trầm? Đó là bài toán nan giải của việc phải kích cầu mà đồng thời thắt lưng buộc bụng, xảy ra cho toàn khối công nghiệp hoá đã phát triển.
Năm năm sau, là thời điểm hiện nay, Hoa Kỳ và các nước Âu Châu hay Nhật Bản đang đứng trước sự thể vô cùng bất thường này. Nếu không ý thức được vấn đề và dứt khoát cải cách, Mỹ sẽ giống như Nhật Bản, là mất toi một thập niên, tức là phải sau năm năm nữa mới khá hơn.
Có một quy luật gần như là bài kinh tế nhập môn. Đó là người ta thường chỉ thấy "cái được" trong kinh tế mà khó nhìn ra "cái mất", nhiều khi là mặt trái, mặt ẩn và chỉ xuất hiện về sau.
Từ ba chục năm nay, chính người dân Mỹ, cả trăm triệu hộ gia đình và doanh nghiệp, đã đi vay liên tục và qua nhiều cách khác nhau, từ thẻ tín dụng đến tài trợ địa ốc hay đầu tư đủ loại. Từ 1.500 tỷ đô la vào năm 1980, gánh nợ tư nhân đó đã tăng gấp bốn trong 20 năm và vượt 6.000 tỷ vào năm 2001, lại còn tăng gấp hai tới đỉnh cao là hơn 13.000 tỷ vào năm 2007. Đấy là phần "được" của giai đoạn lạc quan về sự sung mãn. Cái mất là gánh nợ tích lũy ấy sẽ có ngày đổ.
- Sở dĩ như vậy và đây là một trong nhiều lý do giải thích tình trạng lạc quan kéo dài là cả thế giới vui mừng với triển vọng toàn cầu hóa trong một địa cầu thu hẹp. Khi Trung Quốc từ bỏ chế độ tập trung quản lý và bế quan toả cảng để theo kinh tế thị trường từ năm 1979 và 10 năm sau, khi Liên bang Xô viết tan rã rồi sụp đổ, cả khối kinh tế cộng sản cũng cải tổ theo quy luật tự do và mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ và tài chính cho mọi quốc gia. Vì thế, người ta làm ăn vay mượn dễ dàng, với tiền nhiều và rẻ hơn từ các nền kinh tế đang lên mà thổi lên bong bóng và quên dần nhu cầu trả nợ. Cũng nhìn trong trường kỳ thì ta còn thấy một lý do khác.
Vay mượn quá sức
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta còn nhớ là hơn chục năm về trước, cả thế giới đã nói đến những hứa hẹn của nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng về công nghệ tin học.
Đấy là "cái được" mà ai cũng có thể thấy vì sản xuất ra cùng một lượng hàng hóa dịch vụ mà tốn ít nhân công hơn và có thể đương đầu với sự xuất hiện của các nền kinh tế tân hưng của Đông Á với nhân công rẻ hơn.
Cái mất của sự thay đổi là người dân trong các nước tiên tiến dễ bị thất nghiệp nếu không theo kịp sự đổi thay của thuật lý và nền giáo dục lẫn cả xã hội phải thi đua để cập nhật với những đổi thay này.
Hậu quả là xáo trộn kinh tế và bất mãn xã hội khi thất nghiệp sẽ nằm ở mức rất cao trong một giai đoạn khá lâu. Hoa Kỳ đang bị tai họa đó. Mà chưa hết vì chẳng khác gì khối công nghiệp hoá, nước Mỹ cũng có đổi thay về dân số.
Các quốc gia công nghiệp hoá đều tiến qua hình thái kinh tế và xã hội khác, điều ấy có ảnh hưởng đến yếu tố mà giới kinh tế gọi là "định mệnh", đó là cơ cấu dân số.
Nói chung, trong các xã hội tiên tiến đó, người dân lập gia đình trễ hơn và có con ít hơn nên về dài thì thành phần ở tuổi lao động, xin hãy tạm lấy tiêu chuẩn là từ 18 đến 55 tuổi, sẽ ít dần so với tổng số cư dân. Song song, tiến bộ về thuật lý trong y học và dưỡng sinh cũng kéo dài tuổi thọ trong các xã hội này.
Hậu quả là họ bị hiện tượng gọi là "lão hóa dân số", với người gia lão đông hơn và cần nhiều dịch vụ và phúc lợi y tế xã hội lâu dài hơn trong khi tỷ trọng thành phần năng động về sản xuất và đóng góp cho quỹ phúc lợi ấy sẽ giảm.
Nhờ có chính sách tiếp nhận di dân, là thành phần có sinh suất cao vì đẻ con nhiều hơn, Hoa Kỳ có dân số tương đối trẻ hơn Nhật Bản và nhiều nước Âu Châu mà cũng đã bị hiệu ứng của nạn lão hóa dân số. Trung Quốc đi sau mà cũng gặp định mệnh này do chính sách "mỗi hộ một con" họ ban hành từ 40 năm trước
Nạn lão hóa dân số
Chúng ta sẽ hơi mất công để nhìn ra cùng lúc hai vế cung cầu của hai khía cạnh sản xuất và tiêu thụ và của hai lớp dân số, những người năng động từ 25 đến 55 tuổi và giới cao niên trên 55 tuổi mà có tuổi thọ dài hơn trước.
Thành phần năng động bị thu hẹp sẽ làm giảm năng suất trong địa hạt sản xuất và cũng giảm số cầu về nhà cửa, xe cộ, v.v... cho cả nền kinh tế. Song song, thành phần cao niên đông đảo hơn sẽ tiêu thụ ít hơn, ở nhà nhỏ hơn, tiết kiệm nhiều hơn mà vẫn cần nhiều phí tổn về hưu liễm và sức khoẻ. Tổng hợp lại thì trong trường kỳ sản lượng kinh tế sẽ giảm, đà tăng trưởng hàng năm không thể ở mức 5-6% như xưa, với số thất nghiệp cao hơn.
Hoa Kỳ là một quốc gia thống nhất theo thể chế liên bang nên các cơ chế có thể xoay chuyển chứ không bị phân hóa và tê liệt như Âu Châu. Thứ hai, Hoa Kỳ năng động biến báo chứ không ù lỳ trì trệ và đình hoãn cải cách như Nhật Bản trong 20 năm qua.
Vì vậy trong khối kinh tế công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật, Hoa Kỳ sẽ có hy vọng vượt thoát sớm nhất và thực tế thì tư doanh Mỹ đã sớm bước qua hướng khác rồi.
Một lý do cụ thể cho giả thuyết lạc quan này là sau năm năm hoạn nạn, các doanh nghiệp Mỹ đã trả nợ và tích lũy được một khối hiện kim hay bạc mặt tới cả ngàn tỷ đô la. Trong khi ấy, so với các thị trường khác thì Mỹ vẫn là nơi đầu tư an toàn và có lời nên tiếp tục đón nhận được đầu tư hay "tiết kiệm nhập khẩu" của nước ngoài.
Vì vậy, sau một năm 2013 có nhiều khó khăn không tránh khỏi, tình hình năm 2014 sẽ khả quan hơn những gì đã thấy từ năm năm qua. Về dài thì lãnh đạo chính trị xứ này cũng phải ý thức được yêu cầu cải cách đó, nếu không thì họ sẽ thất cử. Để kết luận, tôi thiển nghĩ là trong trung hạn từ hai đến năm năm, Mỹ sẽ thoát xác và đấy là lúc ta nên so sánh với khả năng xoay chuyển của các xứ khác, là điều mình sẽ tìm hiểu trong mấy kỳ sau.
Năm năm sau, là thời điểm hiện nay, Hoa Kỳ và các nước Âu Châu hay Nhật Bản đang đứng trước sự thể vô cùng bất thường này. Nếu không ý thức được vấn đề và dứt khoát cải cách, Mỹ sẽ giống như Nhật Bản, là mất toi một thập niên, tức là phải sau năm năm nữa mới khá hơn.
Có một quy luật gần như là bài kinh tế nhập môn. Đó là người ta thường chỉ thấy "cái được" trong kinh tế mà khó nhìn ra "cái mất", nhiều khi là mặt trái, mặt ẩn và chỉ xuất hiện về sau.
Từ ba chục năm nay, chính người dân Mỹ, cả trăm triệu hộ gia đình và doanh nghiệp, đã đi vay liên tục và qua nhiều cách khác nhau, từ thẻ tín dụng đến tài trợ địa ốc hay đầu tư đủ loại. Từ 1.500 tỷ đô la vào năm 1980, gánh nợ tư nhân đó đã tăng gấp bốn trong 20 năm và vượt 6.000 tỷ vào năm 2001, lại còn tăng gấp hai tới đỉnh cao là hơn 13.000 tỷ vào năm 2007. Đấy là phần "được" của giai đoạn lạc quan về sự sung mãn. Cái mất là gánh nợ tích lũy ấy sẽ có ngày đổ.
- Sở dĩ như vậy và đây là một trong nhiều lý do giải thích tình trạng lạc quan kéo dài là cả thế giới vui mừng với triển vọng toàn cầu hóa trong một địa cầu thu hẹp. Khi Trung Quốc từ bỏ chế độ tập trung quản lý và bế quan toả cảng để theo kinh tế thị trường từ năm 1979 và 10 năm sau, khi Liên bang Xô viết tan rã rồi sụp đổ, cả khối kinh tế cộng sản cũng cải tổ theo quy luật tự do và mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ và tài chính cho mọi quốc gia. Vì thế, người ta làm ăn vay mượn dễ dàng, với tiền nhiều và rẻ hơn từ các nền kinh tế đang lên mà thổi lên bong bóng và quên dần nhu cầu trả nợ. Cũng nhìn trong trường kỳ thì ta còn thấy một lý do khác.
Vay mượn quá sức
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta còn nhớ là hơn chục năm về trước, cả thế giới đã nói đến những hứa hẹn của nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng về công nghệ tin học.
Đấy là "cái được" mà ai cũng có thể thấy vì sản xuất ra cùng một lượng hàng hóa dịch vụ mà tốn ít nhân công hơn và có thể đương đầu với sự xuất hiện của các nền kinh tế tân hưng của Đông Á với nhân công rẻ hơn.
Cái mất của sự thay đổi là người dân trong các nước tiên tiến dễ bị thất nghiệp nếu không theo kịp sự đổi thay của thuật lý và nền giáo dục lẫn cả xã hội phải thi đua để cập nhật với những đổi thay này.
Hậu quả là xáo trộn kinh tế và bất mãn xã hội khi thất nghiệp sẽ nằm ở mức rất cao trong một giai đoạn khá lâu. Hoa Kỳ đang bị tai họa đó. Mà chưa hết vì chẳng khác gì khối công nghiệp hoá, nước Mỹ cũng có đổi thay về dân số.
Các quốc gia công nghiệp hoá đều tiến qua hình thái kinh tế và xã hội khác, điều ấy có ảnh hưởng đến yếu tố mà giới kinh tế gọi là "định mệnh", đó là cơ cấu dân số.
Nói chung, trong các xã hội tiên tiến đó, người dân lập gia đình trễ hơn và có con ít hơn nên về dài thì thành phần ở tuổi lao động, xin hãy tạm lấy tiêu chuẩn là từ 18 đến 55 tuổi, sẽ ít dần so với tổng số cư dân. Song song, tiến bộ về thuật lý trong y học và dưỡng sinh cũng kéo dài tuổi thọ trong các xã hội này.
Hậu quả là họ bị hiện tượng gọi là "lão hóa dân số", với người gia lão đông hơn và cần nhiều dịch vụ và phúc lợi y tế xã hội lâu dài hơn trong khi tỷ trọng thành phần năng động về sản xuất và đóng góp cho quỹ phúc lợi ấy sẽ giảm.
Nhờ có chính sách tiếp nhận di dân, là thành phần có sinh suất cao vì đẻ con nhiều hơn, Hoa Kỳ có dân số tương đối trẻ hơn Nhật Bản và nhiều nước Âu Châu mà cũng đã bị hiệu ứng của nạn lão hóa dân số. Trung Quốc đi sau mà cũng gặp định mệnh này do chính sách "mỗi hộ một con" họ ban hành từ 40 năm trước
Nạn lão hóa dân số
Chúng ta sẽ hơi mất công để nhìn ra cùng lúc hai vế cung cầu của hai khía cạnh sản xuất và tiêu thụ và của hai lớp dân số, những người năng động từ 25 đến 55 tuổi và giới cao niên trên 55 tuổi mà có tuổi thọ dài hơn trước.
Thành phần năng động bị thu hẹp sẽ làm giảm năng suất trong địa hạt sản xuất và cũng giảm số cầu về nhà cửa, xe cộ, v.v... cho cả nền kinh tế. Song song, thành phần cao niên đông đảo hơn sẽ tiêu thụ ít hơn, ở nhà nhỏ hơn, tiết kiệm nhiều hơn mà vẫn cần nhiều phí tổn về hưu liễm và sức khoẻ. Tổng hợp lại thì trong trường kỳ sản lượng kinh tế sẽ giảm, đà tăng trưởng hàng năm không thể ở mức 5-6% như xưa, với số thất nghiệp cao hơn.
Hoa Kỳ là một quốc gia thống nhất theo thể chế liên bang nên các cơ chế có thể xoay chuyển chứ không bị phân hóa và tê liệt như Âu Châu. Thứ hai, Hoa Kỳ năng động biến báo chứ không ù lỳ trì trệ và đình hoãn cải cách như Nhật Bản trong 20 năm qua.
Vì vậy trong khối kinh tế công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật, Hoa Kỳ sẽ có hy vọng vượt thoát sớm nhất và thực tế thì tư doanh Mỹ đã sớm bước qua hướng khác rồi.
Một lý do cụ thể cho giả thuyết lạc quan này là sau năm năm hoạn nạn, các doanh nghiệp Mỹ đã trả nợ và tích lũy được một khối hiện kim hay bạc mặt tới cả ngàn tỷ đô la. Trong khi ấy, so với các thị trường khác thì Mỹ vẫn là nơi đầu tư an toàn và có lời nên tiếp tục đón nhận được đầu tư hay "tiết kiệm nhập khẩu" của nước ngoài.
Vì vậy, sau một năm 2013 có nhiều khó khăn không tránh khỏi, tình hình năm 2014 sẽ khả quan hơn những gì đã thấy từ năm năm qua. Về dài thì lãnh đạo chính trị xứ này cũng phải ý thức được yêu cầu cải cách đó, nếu không thì họ sẽ thất cử. Để kết luận, tôi thiển nghĩ là trong trung hạn từ hai đến năm năm, Mỹ sẽ thoát xác và đấy là lúc ta nên so sánh với khả năng xoay chuyển của các xứ khác, là điều mình sẽ tìm hiểu trong mấy kỳ sau.
Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012
Tản mạn Đất và người
Đất rõ ràng ảnh hưởng tới người.
Như người Tràng An vẫn tự hào:
"Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An"
Mặc dù đó là xưa, người Tràng An nay dần tuyệt tích, giờ chỉ còn Hà Lội thôi.
Tương tự vậy, người Hải Phòng tâm niệm "HP đó hiên ngang chỉ biết ngẩng đầu" nên đã cố lên gân, dù ở ngay HP người đó dát dát là, cho xứng danh anh hùng.
Vô miền Trung, dân Nghệ An chết tên cá gỗ, nên hơi hà tiện chút là bị dè bỉu, mặc tình ngày này khó khăn là khó khăn chung, người tỉnh khác cũng tiết kiệm, hà tiện chẳng kém, thậm chí còn hơn.
Huế cũng xứng danh đất Thần kinh, hỏng phải man man đâu mà đó là danh xưng đế đô. Vua Minh Mạng đã phải nhận xét:
Sông không sâu, núi không cao
Trai thì đa trá, gái thì đa dâm
Đất quảng chưa mưa đã thấm lừng danh với Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co vì tánh ưa tranh luận của mình..
Hay Vũng Tàu, giàu có thế mà trai xứ đó bị chê yếu chỉ vì có thơ làm chứng:
Vũng Tàu nằm giữa hai hòn
Chỉ khoan một cái là dầu phọt ra
Hay như làng Zú (Vũ) Đại, có phải ai cũng ngực bự đâu mà được tiếng cả làng là Zú đại.
Nhà thơ Vũ (Zú) Cao bất hủ với bài Núi Đôi cũng vậy, tên ông rành rành ám chỉ ông sẽ thành danh với Núi đôi, chẳng phải chỉ ngực chị em là gì.
Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012
Tứ khoái thời bao cấp
Ăn: miếng ăn thời đó cực quan trọng, nói nhanh là đói khổ. Gà giờ bị chê ăn chua chứ trước chỉ có giỗ chạp, lễ tết mới có gà ăn dù nhà nào cũng nuôi vài con gà. Nhà nào ăn gà nhiều không dám chặt mà phải xài kéo cho êm, kẻo hàng xóm biết, dị nghị, tai mắt nhân dân mà.
Ngủ: Được cái làm lụng mệt nhọc, ăn ít nên ngủ dễ. Nhà tôi 05 người, phòng 12m2, kê 01 giường đôi 3 xà, 2 giường đơn phải cưa ngắn lại cũng chiếm 1/2 nhà. May đồ đạc còn lại ít nên trông cũng ok. Vậy đã là ngon, cậu tôi, nhà 04 người ở Hà nội còn phải ở gầm cầu thang khu Kim liên cả chục năm.
Đụ: thử tưởng tượng tất tần tật trong một gian phòng thì sinh hoạt sẽ ra răng. Đi nhẹ nói khẽ còn chưa đạt yêu cầu mà phải đạt chuẩn đi không dấu, nấu không khói, tàng hình,...đại khái khuya con cái ngủ hết, khẽ khàng làm tình trong tư thế không cử động mạnh, không gây tiếng động, không cọt kẹt giường vì giường 3 xà rất ọp ẹp, khi sướng cấm được rên la, hi hi, quiet first. Vẫn sướng chán so với ở nhà vách liếp, rất nhiều trường hợp bị vạch liếp xem con heo video clip miễm phí. Cũng vì chuyện này mà hàng xóm biết hết, biết hết.
Ẻ: hố xí 2 ngăn, văn minh nhất quả đất, trên ị, đưới lấy phân. Nơi tôi ở gần Lũng, làng hoa Hải phòng nên đội quân 2 thùng 1 đèn rất đông đảo nhưng chưa oai bằng dân Thủy nguyên
Đứng trên phà Bính anh thề
Chưa lấy được cứt chưa về Thủy nguyên
Thú thật khi xem giải worldcup ở Namphi nghe tiếng kèn vuvu zì đó tôi nghe như tiếng nhặng chuồng xí.
Các bạn tham khảo thêm bài này
http://baodatviet.vn/Home/doisong/Den-chet-cung-khong-quen-ho-xi-thoi-bao-cap-ky-1/201211/245307.datviet
Như người Tràng An vẫn tự hào:
"Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An"
Mặc dù đó là xưa, người Tràng An nay dần tuyệt tích, giờ chỉ còn Hà Lội thôi.
Tương tự vậy, người Hải Phòng tâm niệm "HP đó hiên ngang chỉ biết ngẩng đầu" nên đã cố lên gân, dù ở ngay HP người đó dát dát là, cho xứng danh anh hùng.
Vô miền Trung, dân Nghệ An chết tên cá gỗ, nên hơi hà tiện chút là bị dè bỉu, mặc tình ngày này khó khăn là khó khăn chung, người tỉnh khác cũng tiết kiệm, hà tiện chẳng kém, thậm chí còn hơn.
Huế cũng xứng danh đất Thần kinh, hỏng phải man man đâu mà đó là danh xưng đế đô. Vua Minh Mạng đã phải nhận xét:
Sông không sâu, núi không cao
Trai thì đa trá, gái thì đa dâm
Đất quảng chưa mưa đã thấm lừng danh với Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co vì tánh ưa tranh luận của mình..
Hay Vũng Tàu, giàu có thế mà trai xứ đó bị chê yếu chỉ vì có thơ làm chứng:
Vũng Tàu nằm giữa hai hòn
Chỉ khoan một cái là dầu phọt ra
Hay như làng Zú (Vũ) Đại, có phải ai cũng ngực bự đâu mà được tiếng cả làng là Zú đại.
Nhà thơ Vũ (Zú) Cao bất hủ với bài Núi Đôi cũng vậy, tên ông rành rành ám chỉ ông sẽ thành danh với Núi đôi, chẳng phải chỉ ngực chị em là gì.
Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012
Tứ khoái thời bao cấp
Ăn: miếng ăn thời đó cực quan trọng, nói nhanh là đói khổ. Gà giờ bị chê ăn chua chứ trước chỉ có giỗ chạp, lễ tết mới có gà ăn dù nhà nào cũng nuôi vài con gà. Nhà nào ăn gà nhiều không dám chặt mà phải xài kéo cho êm, kẻo hàng xóm biết, dị nghị, tai mắt nhân dân mà.
Ngủ: Được cái làm lụng mệt nhọc, ăn ít nên ngủ dễ. Nhà tôi 05 người, phòng 12m2, kê 01 giường đôi 3 xà, 2 giường đơn phải cưa ngắn lại cũng chiếm 1/2 nhà. May đồ đạc còn lại ít nên trông cũng ok. Vậy đã là ngon, cậu tôi, nhà 04 người ở Hà nội còn phải ở gầm cầu thang khu Kim liên cả chục năm.
Đụ: thử tưởng tượng tất tần tật trong một gian phòng thì sinh hoạt sẽ ra răng. Đi nhẹ nói khẽ còn chưa đạt yêu cầu mà phải đạt chuẩn đi không dấu, nấu không khói, tàng hình,...đại khái khuya con cái ngủ hết, khẽ khàng làm tình trong tư thế không cử động mạnh, không gây tiếng động, không cọt kẹt giường vì giường 3 xà rất ọp ẹp, khi sướng cấm được rên la, hi hi, quiet first. Vẫn sướng chán so với ở nhà vách liếp, rất nhiều trường hợp bị vạch liếp xem con heo video clip miễm phí. Cũng vì chuyện này mà hàng xóm biết hết, biết hết.
Ẻ: hố xí 2 ngăn, văn minh nhất quả đất, trên ị, đưới lấy phân. Nơi tôi ở gần Lũng, làng hoa Hải phòng nên đội quân 2 thùng 1 đèn rất đông đảo nhưng chưa oai bằng dân Thủy nguyên
Đứng trên phà Bính anh thề
Chưa lấy được cứt chưa về Thủy nguyên
Thú thật khi xem giải worldcup ở Namphi nghe tiếng kèn vuvu zì đó tôi nghe như tiếng nhặng chuồng xí.
Các bạn tham khảo thêm bài này
http://baodatviet.vn/Home/doisong/Den-chet-cung-khong-quen-ho-xi-thoi-bao-cap-ky-1/201211/245307.datviet
Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012
Thế mới là nhà phân tích
05.08.20
Quyền lực của quốc gia hạng trung
Từ cuối năm 2012 George Friedman đã đưa ra nhận định:
Ông cho rằng trong thế kỷ XXI, Ba Lan cùng với Thổ Nhĩ Kỳ sẽ là hai trong các cường quốc quan trọng của châu Âu và Á.
Do đâu ông có nhận định như vậy:
Các cường quốc thì không đánh nhau trực diện, đó là nguyên tắc. Vậy khi Nga ảnh hưởng tới châu Âu, Trung đông sẽ dùng những chiêu như ta thấy ở Crime, Siry. Tức là những nước nhỏ yếu sẽ bị áp chế bằng sự đe dọa, bằng kinh tế, bằng đặc nhiệm...tạo sự đã rồi.
Vậy ai có thể ngăn cản người Nga? Đó chính là các quốc gia tầm trung như Balan, Thổ nhĩ kỳ. Tầm đó cường quốc không nhai tươi nuốt sống được và chưa chắc cánh tay vươn dài của mình đã thắng được khi nước tầm trung gồng lên.
Ba lan giờ trở thành tuyến đầu của châu Âu trước Nga còn TNK trực tiếp tham chiến tại Siry.
2018
Nhiều bạn nghĩ người phân tích hay nhờ có thông tin, số liệu mật nhưng thực ra kỹ năng và sự bén nhạy còn quan trọng hơn.
Thế chiến 2, 1 hôm Hitler phát hoảng vì kế hoạch tấn công và bố trí binh lực của Đức bị lộ trên báo Anh. Nghi ngờ có gián điệp nên hàng loạt vụ khám xét bắt bớ xảy ra. Cho tới khi điều đặc nhiệm qua bắt sống nhà báo mang về tra hỏi thì mới rõ lý do. Hóa ra trong 2 năm, mọi tin công khai về quân đội Đức đều được pv này tập hợp lại và tổng hợp (chính xác tới 99%)
Chuyện 2 là sau 75, số nhân viên phân tích về VN của CIA giảm mạnh nhưng họ vẫn đoán trúng việc TQ tấn công VN qua nguồn thông tin công khai của 2 nước.
Mỹ trở về nhà
Quyền lực của quốc gia hạng trung
Từ cuối năm 2012 George Friedman đã đưa ra nhận định:
Ông cho rằng trong thế kỷ XXI, Ba Lan cùng với Thổ Nhĩ Kỳ sẽ là hai trong các cường quốc quan trọng của châu Âu và Á.
Do đâu ông có nhận định như vậy:
Các cường quốc thì không đánh nhau trực diện, đó là nguyên tắc. Vậy khi Nga ảnh hưởng tới châu Âu, Trung đông sẽ dùng những chiêu như ta thấy ở Crime, Siry. Tức là những nước nhỏ yếu sẽ bị áp chế bằng sự đe dọa, bằng kinh tế, bằng đặc nhiệm...tạo sự đã rồi.
Vậy ai có thể ngăn cản người Nga? Đó chính là các quốc gia tầm trung như Balan, Thổ nhĩ kỳ. Tầm đó cường quốc không nhai tươi nuốt sống được và chưa chắc cánh tay vươn dài của mình đã thắng được khi nước tầm trung gồng lên.
Ba lan giờ trở thành tuyến đầu của châu Âu trước Nga còn TNK trực tiếp tham chiến tại Siry.
2018
Nhiều bạn nghĩ người phân tích hay nhờ có thông tin, số liệu mật nhưng thực ra kỹ năng và sự bén nhạy còn quan trọng hơn.
Thế chiến 2, 1 hôm Hitler phát hoảng vì kế hoạch tấn công và bố trí binh lực của Đức bị lộ trên báo Anh. Nghi ngờ có gián điệp nên hàng loạt vụ khám xét bắt bớ xảy ra. Cho tới khi điều đặc nhiệm qua bắt sống nhà báo mang về tra hỏi thì mới rõ lý do. Hóa ra trong 2 năm, mọi tin công khai về quân đội Đức đều được pv này tập hợp lại và tổng hợp (chính xác tới 99%)
Chuyện 2 là sau 75, số nhân viên phân tích về VN của CIA giảm mạnh nhưng họ vẫn đoán trúng việc TQ tấn công VN qua nguồn thông tin công khai của 2 nước.
Mỹ trở về nhà
http://www.polityka.pl/swiat/rozmowy/1531877,1,wywiad-zakowski-z-friedmanem-o-ameryce-i-europie.read
Tuần báo Polityka phỏng vấn George Friedman
Đinh Minh Đạo dịch
LND: George Friedman, người sáng lập công ty tình báo tư nhân STRATFOR, là một trong những nhà bình luận chính trị của Mỹ thường đưa ra những nhận xét trái chiều. Ông cho rằng trong thế kỷ XXI, Ba Lan cùng với Thổ Nhĩ Kỳ sẽ là hai trong các cường quốc quan trọng của châu Âu và Á.
STRATFOR, công ty tình báo tư nhân, được coi như cái bóng của CIA. Thế giới truyền thông chú ý đến nó khi trong tháng 02 năm nay Wikileak công bố hàng triệu mail gửi đến server của công ty, một công ty nhỏ với 100 nhân viên.
———————————————————–
Jacek Zakowski (J. Z.): Ông họat động tình báo như thế nào?
Georg Friedman (G. F.): Tôi không hoạt động tình báo.
J. Z.: Vậy ông làm gì?
G. F.: Làm công việc như ông đang làm.
J. Z.: Tôi là nhà báo.
G. F.: Tôi là nhà phân tích.
J. Z.: Các ông thu thập tin tức?
G. F.: Công ty chúng tôi là công ty tình báo. Chúng tôi thu thập các thông tin, tổng hợp lại rồi cung cấp cho khách hàng.
J. Z.: Ai trả tiền?
G. F. Trên trang nhà của STRATFOR, không phải trả tiền, ông có thể tìm thấy những báo cáo do những chuyên gia nổi tiếng viết. Tất cả những việc chúng tôi làm đều hợp pháp. Đó là thu thập thông tin chứ không làm gián điệp. Hoạt động của CIA chia ra hai lĩnh vực, thu thập tin tức và tác chiến. Thu thập tin tức để phân tích, còn tác chiến thì tổ chức hoạt động gián điệp. Chúng tôi hoạt động giống như đội thu thập tin tức của “The Economist”, cũng giống như ông.
J. Z.: Nhưng tôi không tuyển mộ điệp viên.
G. F.: Chúng tôi cũng không tuyển mộ điệp viên. Chúng tôi sử dụng những nguồn tin tức.
J. Z.: Nhưng không công khai.
G. F.: Ông muốn mỗi một nguồn tin kèm theo họ tên người cung cấp?
J. Z.: Con bò sữa cung cấp sữa, người bán sữa cũng cung cấp sữa. Ông muốn chứng minh rằng không có sự khác nhau giữa người bán sữa và con bò sữa.
G. F.: Có sự khác nhau đấy. Với tư cách nhà báo ông phải hiểu chuyện gì đã xẩy ra. Tôi là nhà phân tích tình báo, tôi phải biết chuyện gì sẽ xẩy ra.
J. Z.: Ông sử dụng những nguồn tin tức như thế nào?
G. F. : Cũng từ những nguồn giống như ông sử dụng. Chúng tôi tham dự những hội thảo như thế này. Làm quen những nhân vật quan trọng, giữ mối liên hệ thường xuyên. Mời họ cùng ăn trưa, ăn tối. Đặt những câu hỏi, lắng nghe họ trả lời và so sánh. Tổng hợp, phát triển cung cấp cho những người cầnđến nó.
J. Z.: Những nhà ngoại giao thì sao?
G. F.: Phương pháp của STRATFOR là học thuyết địa lý- chính trị. Nguyên tắc cơ bản của nó là mọi mối quan hệ đều có ý nghĩa chính trị. Cuộc trò chuyện giữa chúng ta cũng vậy.
Nó sẽ giúp ông tự rèn luyện mình, tôi cũng vậy. Người ta có thể có hoặc không có ý thức chính trị. Một số người nói chuyện với chúng tôi cởi mở, một số thì kín đáo. Ai mà nói chuyện với ông cởi mở, đặt tên cho họ là”người nói chuyện giấu tên”. Người nói chuyện với tôi kín đáo, tôi gọi họ là “nguồn bí mật”.
J. Z.: Nhưng CIA không đặt tôi viết những báo cáo cho họ?
G. F.: Họ đọc POLITYKA của các ông và bản tin của chúng tôi. Cả hai có ảnh hưởng đến nhận định của họ. Họ không có nguồn cung cấp tốt hơn đâu.
J. Z.: Bây giờ ông làm tôi sợ hãi đấy.
G. F. : Tôi cũng đã sợ hãi, khi tôi hiểu ra mọi việc. Từ những năm trước, tất cả chúng ta đều biết, Afganistan là quả bom nổ chậm. Nhưng năm 2003, CIA đã không hề chuẩn bị cho chiến tranh tại Afganistan. Mọi người đều bất ngờ khi nó xẩy ra. Năm 1989 tại Ba Lan cũng vậy. Thế giới sẽ không an toàn khi mà những cơ quan tình báo lớn nhất không nắm được tình hình ở các vùng then chốt.
J. Z.: Tại sao lại không nắm được?
G. F.: Vì có quá nhiều lãnh đạo và tiền bạc, nên những người lãnh đạo tốt thì được thăng cấp, còn những người thu thập tin tức và phân tích xác đáng thì không. CIA cho rằng, cần phải biết tất cả mọi việc về tất cả mọi người, vì vậy nên không tập trung vào những vấn đề quan trọng.
Họ quen biết tất các cô bồ của tất cả các bộ trưởng của Irak, nhưng không có khái niệm người dân Irak bình thường sẽ làm gì khi quân nước ngoài đổ vào. Ngay cả điều nguy hiểm nhất, đe dọa quân đội Mỹ cũng không được nhắc đến, dù chỉ là trên miệng.
J. Z. : Điều gì đe dọa họ?
G. F. : Dưới chiêu bài dân chủ, thực hiện ý đồ của đế quốc Mỹ.
J. Z.: Tức là?
G. F.: Lãnh đạo thế giới bắt buộc chuyển giao chính quyền cho các nhà kỹ trị. Không phải những người tiếp nhận chính quyền là những người xấu, trong đám họ không có những Stalin. Họ chỉ cố gắng đảm bảo an ninh cho nước Mỹ. Điều đó không có gì xấu. Đáng sợ là ở chỗ là quá trình chuyển giao không tuân thủ các nguyên tắc dân chủ.
J. Z.: Thí dụ?
G. F.: Nói về quá khứ. KGB bảo vệ Liên Xô. Để đối trọng, chúng tôi buộc phải thành lập CIA. Ở chúng tôi cũng hình thành hệ thống can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân. Biểu hiện tồi tệ nhất là xuất hiện chủ nghĩa McCarthy(1). Hiện nay chúng tôi cũng gặp trường hợp tương tự. Để đối phó với những bất chắc do toàn cầu hóa mang đến, đã không làm suy yếu các cơ quan dân chủ.Nhưng chính những suy nghĩ mang tính chất đế quốc tạo ra đe dọa đối với nền cộng hòa chúng tôi.
J. Z.: Tôi không thấy một đế quốc nào không có vấn đề với nền cộng hòa. Bắt đầu từ Rome qua Pháp của Napoleon, Phổ đến nước Nga thời các hoàng đế và nước Nga Xô Viết, các đế quốc được hình thành từ sự trả giá của nền cộng hòa và tan dã khi thử nghiệm dân chủ hóa.
G. F.: Bởi họ còn muốn là những đế quốc. Còn Mỹ không có dụng tâm. Còn có sự khác biệt nữa. Trong mỗi đế quốc có giai cấp sẵn sàng đình chỉ các hoạt động dân chủ. Ở Mỹ không có giai cấp này. Chúng tôi là một xã hội được xây dựng trên nền tảng dân chủ, con cháu chúng tôi còn tiếp tục đấu tranh vì nó.
J. Z. : Còn con trai của ông?
G. F. : Và con gái nữa. Nó đã ở Irak hai năm. Cũng chính vì vậy tôi càng bất bình với CIA. Tôi không chống cuộc chiến tranh này, nhưng tôi chống lại sự chiếm đóng đất nước ở tận cùng thế giới. Đó là điều ngu dại và phi dân chủ.Đã không có ai hỏi chúng tôi xem có muốn chiếm đóng Irak không. Có thể đại đa số trả lời là “không”. Nhưng
trong các nước đế quốc, câu hỏi như thế không được đặt ra. Bởi vậy nền công hòa càng yếu kém đi.
J. Z.: Sẽ làm gì trước tình hình trên đây?
G. F.: Đây là một khó khăn. Trước đây chúng ta đã tưởng rằng phải hàng trăm năm để đấu tranh với những người Xô Viết. Nhưng họ đã biến mất, Liên Xô đã tan dã. Chúng tôi đã tưởng rằng mình hướng dẫn được cả thế giới. Chúng tôi đã cứu Kosovo và các nước khác. Nhưng thực tế đã chỉ ra rằng, một đế quốc đơn độc gặp nhiều khó khăn. Tất cả mọi người chống lại anh và họ còn muốn ở anh một cái gì đó nữa.
Chúng tôi đã rơi vào cái bẫy. Ở các nước nói trên, chúng tôi có những chính quyền không như mong muốn, cũng không ai muốn dứt nó ra khỏi chúng tôi.
Tất cả mọi người đều nói, rằng thế giới phải đa cực, nhưng không ai bắt tay để tạo ra một cực khác. Syria là một ví dụ rõ ràng. Chúng ta đã không làm gì, tất cả chúng ta sẽ có tội với hàng nghìn những nạn nhân. Nếu chúng tôi làm cái gì đó, tình hình sẽ lại giống như trước đây.
J. Z. Các ông sẽ bình thản đứng nhìn những diễn biến?
G. F. Vùng Địa Trung Hải là vấn đề của những người châu Âu. Chúng tôi đã giúp đỡ các ông tại Libya. Các ông không thể mãi mãi lợi dụng chúng tôi. Nước Mỹ đã hiểu rằng, họ không thể làm được tất cả mọi việc.
Chúng tôi không có quyền lợi gì đáng kể tại Libya cũng như tại Syria. Chúng tôi không tiếp nhận bất cứ một vai trò nào tại đây. Tại sao chúng tôi lại phải chết tại đó? Tại nước Mỹ, ngày càng phát triển suy nghĩ, rằng chúng tôi không mong muốn là một đế quốc như vậy. Nhưng không ai tin chúng tôi, cũng chẳng ai cám ơn chúng tôi.
J. Z. Bởi các ông như con voi quá lớn trong bãi lầy toàn cầu hóa.
G. F. Chúng tôi không thể gầy đi trong một vài ngày. Chúng tôi cố gắng để không phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô, để thu nhỏ lại cái thân thể đế quốc cồng kềnh của mình. Nhưng không đơn giản. Những người châu Âu hiểu rõ nhất, quản lý một quốc gia 340 triệu dân là một quá trình phức tạp.
Dù là Obama hay Romney cũng không thể thay đổi được nước Mỹ và thế giới trong một đêm hay một một nhiệm kỳ. Mười năm nay chúng tôi đã chiến đấu, như thế đủ rồi. Cuộc chiến tranh tiếp sau đây của chúng tôi, phải là cuộc chiến tranh liên quan trực tiếp đến lợi ích của nước Mỹ.
J. Z.: Có lợi ích của nước Mỹ trong việc bảo vệ các hòn đảo của Nhật trước Trung Quốc?
G. F.: Đó không phải là vấn đề chính trị quan trọng của chúng tôi.
J. Z.: Chiến tranh với Trung Quốc không quan trọng?
G. F. : Chiến tranh với Trung Quốc sẽ không xẩy ra. Không thể chiếm đóng Trung Quốc. Trung Quốc không có hàng không mẫu hạm.
J. Z.: Họ có tầu sân bay.
G. F. : Một chiếc. Họ không thể tấn công chúng tôi. Còn chúng tôi không thể tấn công họ. Khi Trung Quốc tấn công Nhật, Đài Loan hay Nam Triều Tiên, chúng tôi có thể giúp đỡ nhưng không gửi quân tới Trung Quốc. Tại Washington đã có cuộc gặp gỡ ở cấp thứ trưởng phụ trách các vấn đề viễn đông.
J. Z.: Khi Trung Quốc tấn công các hòn đảo nhỏ…
G. F.: Không tấn công. Họ chỉ đưa các tầu đánh cá và các tầu pháo hạm nhỏ. Đó chưa đủ để tiến hành chiến tranh với Mỹ. Trung Quốc là một nước lớn, nhưng họ có những khó khăn mà ngay một nước lớn hùng mạnh cũng không giải quyết được. Khi Liên Xô chiếm Litva, Mỹ cũng đã bó tay. Ai đã có thể bảo vệ được Litva?
J. Z.: NATO?
G. F.: Ba Lan đã có thể bảo vệ được Litva?
J. Z.: Ba Lan PiS (2) đã có thể bảo vệ.
G. F. : Bảo vệ như thế nào? Bằng cách nào? An ninh và chiến tranh là những vấn đề quan trọng. Không được tự do tạo ra ảo giác. Mỹ kiểm soát các đại dương. Nhưng không thể kiểm soát từng chỗ trên trái đất. Khi là đế quốc non trẻ, Mỹ đã thử nghiệm và biết rằng không thể làm được điều đó.
Trung Quốc hiểu rằng, không thể tấn công Nhật cũng như Đài Loan, bởi chúng tôi kiểm soát các đại dương. Chúng tôi biết không kịp giúp đỡ một số nước nếu Nga tấn công họ. Nhưng Nga và Trung Quốc không phải là những vấn đề chiến lược của chúng tôi. Vấn đề là sự phục hưng NhậtBản thành một cường quốc hùng mạnh về quân sự.
J. Z.: Sẽ đe dọa hay mang lại hy vọng đối với Mỹ?
G. F.: Chúng tôi hậu thuẫn cho sự lớn mạnh bước đầu của Nhật. Nhưng về lâu dài, bất cứ một cường quốc hải quân nào ở Thái Bình Dương đêù đe dọa Mỹ. Chúng tôi luôn luôn theo phương châm này. Chúng tôi đã hậu thuẫn cho Stalin chống lại Hitle, sau đó chúng tôi lại giúp kẻ thù của mìnhxây dựng lại.
J. Z.: Trung Quốc sẽ đóng hai tầu sân bay nữa. Theo các kế hoạch tiếp theo, khoảng hơn chục năm nữa họ sẽ có hạm đội.
G. F.: Cũng có thể không có. Kinh tế của họ đang phát triển chậm lại. Trong toàn vùng như một sân khấu của địa lý- chính trị. Nhà hát của điệu bộ và tập quán của từng địa phương – Trung Quốc, Nhật, Filipin, Indonesia, Nam Triều Tiên. Nhưng không một nước nào có hạm đội để vươn ra ngoài lãnh thổ của họ.
J. Z. : Trung Quốc sẽ có hạm đội.
G. F.: Để có hạm đội, có các tầu thủy thôi chưa đủ. Phải mất 10 năm trên tầu để trở thành thuyền trưởng, 20 năm để trở thành đô đốc. Để xây dựng một hạm đội phải mất nửa thế kỷ. Sau nửa thế kỷ nữa, có thể hạm đội vũ trụ sẽ trở nên quan trọng hơn hạm đội hải quân. Vì vậy tôi rất buồn về châu Âu. Châu Âu hiện nay giống như diện mạo của năm 1991, 17 năm sau đó đã đi đến khủng khoảng. Sau 5 năm vẫn chưa khắc phục được nó.
J. Z. : Nhật sau 20 năm vẫn chưa khắc phục được khủng khoảng.
G. F.: Nhưng với châu Âu, chúng tôi có mối quan hệ đặc biệt. Trong 10 năm gần đây mối quan hệ này đáng tiếc.
Z. F.: Đối với Mỹ?
G. F.: Tất nhiên. Người Mỹ cảm thấy trong thế kỷ XX, hoạt động ngoại giao của châu Âu đã thu hẹp lại một nửa, và chúng tôi đã phải gánh vác. Từ 1948 đến 1991 chúng tôi đã chi phí tốn kém để bảo vệ châu Âu. Các ông chỉ giúp chúng tôi chút ít ở Apganistan. Ngoài ra các ông chỉ đứng ngoài phê phán.
J. Z.: Chủ yếu là chiến tranh ở Iraq.
G. F.: Ngay cả nếu chiến tranh Iraq là cuộc chiến tranh ngu ngốc, chúng tôi đơn độc gặp rắc rối ở đó, các ông có lỗi khi không giúp đỡ chúng tôi. Nếu các ông không muốn giúp đỡ, các ông phải ngồi im khi chúng tôi đang chết trên są mạc. Khi
chúng tôi so sánh sai lầm của chúng tôi ở Iraq với những sai lầm của châu Âu trong chiến tranh thế giới lần thứ I và II mà Mỹ đã phải trả bằng máu và tiền của, chúng tôi cảm thấy mình bị lừa dối. Chúng tôi đã không phê phán Pháp không giải quyết được vấn đề với Hitle. Tại sao Pháp lại phê phán chúng tôi không thanh toán được Bin Laden?
J. Z.: Các ông đã can dự vào sự mạo hiểm mà nó không hề đe dọa các ông. Các ông đã không có yêu cầu cần được cấp cứu như châu Âu cách đây 60 năm.
G. F.: Nhưng tại sao sau những kinh nghiệm như vậy, Mỹ lại phải đảm bảo an ninh – cho Ba Lan chẳng hạn?
J. Z.: Rumsfeld đã có câu trả lời logic. Châu Âu già cỗi không tốt, châu Âu trẻ tốt. Ba Lan là “châu Âu trẻ”.
G. F. :Vai trò địa lý- chính trị cho câu trả lời xác đáng hơn. Ba Lan nằm kẹp giữa Nga và Đức, đó là vị trí quan trọng để cân bằng trong khu vực. Sự liên minh của các ông với Mỹ sẽ giảm những bất trắc về an ninh và vượt trội so với liên minh Đức – Nga.
Chúng ta có chung lợi ích, chúng ta cũng có lý do để bảo đảm an ninh cho châu Âu già cỗi. Nhưng lần này không biết chúng tôi sẽ trông đợi gì vào châu Âu? Tình
cảm bị phản bội rất phổ biến hiện nay ở Mỹ.
J. Z.: Sắp đặt lại NATO?
G. F.: Cần một lực lượng có khả năng giữ sự ổn định của thế giới. Nếu quan hệ giữa Mỹ và châu Âu không chặt chẽ, cả thế giới sẽ có vấn đề.
J. Z.: Ông nghĩ rằng, sự vỡ mộng đối với châu Âu và gánh nặng để duy trì một đế quốc đã đẩy Mỹ đến chủ nghĩa cách ly mới?
G. F.: Câu hỏi khá thú vị, có phải châu Âu hướng tới chủ nghĩa cách ly? Châu Âu về dân số và kinh tế lớn hơn Mỹ.
Chúng tôi chịu trách nhiệm về trật tự toàn cầu hóa, còn các ông nuôi dưỡng chủ nghĩa cách ly. Để biện giải cho lý do không hoạt động và hành động rất ít, các ông đã nghĩ ra „sức mạnh mềm”, điều mà tôi hoàn toàn không hiểu được.
J. Z.: Sức mạnh mềm do giáo sư Nye của Harvard đưa ra. Đó là đề xuất hay của Mỹ để thực hiện và bảo vệ giấc mơ dân chủ, Hollywood và các ngân hàng thay thế các tầu sân bay.
G. F.: Đó là biểu hiện sự kết nối từ Mỹ đến chủ nghĩa cách ly của châu Âu. Bây giờ câu hỏi được đặt ra là, nếu không có sự hỗ trợ của châu Âu, Mỹ sẽ tiếp tục đường lối chính trị can thiệp?
J. Z.: Sẽ tiếp tục?
G. F.: Vấn đề phụ thuộc vào các ông. Nếu châu Âu không làm gì trong tình hình Syria, còn cáo buộc Mỹ không hành động gì. Nếu châu Âu can thiệp vào Libya, sau vài ngày đã ca thán rằng, thiếu lực lượng và yêu cầu Mỹ tham gia, Mỹ sẽ đi đến với chủ nghĩa cách ly. Châu Âu hãy trưởng thành, châu Âu hãy nhận lấy trách nhiệm ở những khu vực gần kề với mình.
J. Z.: Châu Âu đẩy các ông đến chủ nghĩa cách ly?
G. F. : Tất nhiên rồi. Cơ quan liên kết chúng ta mang tính chiến lược là NATO. Liên minh châu Âu, Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ là cái trục trật tự của thế giới. Như chúng ta thấy, sự liên kết thiếu chặt chẽ của châu Âu với NATO khiến chúng tôi phải cân nhắc, ngày nay NATO có ý nghĩa gì.
Châu Âu tự mình không đặt ra câu hỏi này, bởi càng ngày càng ít chú ý đến thế giới, càng ngày càng hiểu thế giới ít hơn. Cho nên câu hỏi quan trọng nhất hiện nay là câu hỏi về châu Âu. Tương lai không phụ thuộc vào Trung Quốc, vào những người hồi giáo hay Mỹ, mà phụ thộc vào châu Âu. Châu Âu có thể gánh vác mỗi một vai trò, nhưng phải lựa chọn cái nào đó. Nằm ngoài phạm vi của các ông là hai quốc gia mà các ông chưa xác định vai trò của họ, đó Mỹ và Thổ. Điều này đe dọa tất cả các các nước. Vì vậy Mỹ sẽ kiên trì chờ đợi cho đến khi các ông bắt đầu làm một cái gì đó.
J. Z.: Chúng tôi phải tiến vào Syria để thuyết phục các ông, rằng chúng tôi đã trưởng thành?
G. F.: Hãy làm cái gì đó mà các ông muốn. Chúng tôi không có lợi ích cơ bản nào ở Syria.
J. Z.: Các ông có lợi ích cơ bản trong tương lai của Israel.
G. F.: Trước đây đã như vậy, giờ thì không. Đến những năm 70, sự tồn tại của Israel đối với Mỹ là nguyên tắc. Bây giờ vấn đề rất phức tạp. Nếu như chỉ chú ý đến sự tồn tại của nhà nước Israel thì vấn đề có thể là trầm trọng. Nếu chú ý đến khu dân cư ở Bờ Tây, đối với chúng tôi không có gì quan trọng. Sự tồn tại của Israel không bị de dọa. Chỉ có tồn tại trong tình hình không thuận lợi.
Bởi vậy trong vấn đề ném bom Iran, người Israel và người Mỹ đã suy nghĩ rất khác nhau. Israel muốn tấn công. Chúng tôi cho rằng, đó là một giải pháp rất mạo hiểm, mà kết quả sẽ rất hạn chế. Tốt nhất là tìm giải pháp thương lượng với Iran. Những người Iran không phải là những người mất trí. Họ sẽ không tấn công, vì họ biết nếu tấn công họ sẽ bị trả thù. Họ yêu con cái và không muốn chúng phải chết. Họ chế tạo tên lửa và bom để bảo vệ chế độ . Họ sợ Mỹ sẽ hành động như ở Afghanistan và Iraq.
J. Z.: Chế tạo bom là hợp pháp?
G, F.: Mỹ tin rằng, cả hai phía sẽ đảm bảo hòa bình. Quan hệ giữa Israel và Iran tương tự như giữa chúng tôi và Liên Xô trước đây. Ngay cả nếu Iran chế tạo được bom, họ cũng hiểu rằng, nếu họ sử dụng nó, Israel sẽ trả đũa và họ sẽ biến mất. Điều này đủ lý do để không tấn công Iran.
J. Z.: Israel chưa tin chắc điều này.
G, F.: Bởi vậy chúng tôi tranh luận. Thế giới vẫn tiếp tục chờ đợi Mỹ sẽ giải quyết mỗi khủng khoảng từng vùng. Còn chúng tôi đã hiểu rằng, đó là sự vô lý.
J. Z.: Bởi giờ đây các ông không còn mạnh như trước?
G. F.: Chúng tôi có thể chiến thắng quân đội của mỗi nước, nhưng chúng tôi không biết cách chiếm đóng. Chúng tôi có thể chiếm đóng Afghanistan vô thời hạn nếu chúng tôi chấp nhận mỗi năm 2000 lính Mỹ chết.
Nhưng điều này chúng tôi không muốn. Chúng tôi tự hiểu ra rằng, đối với chúng tôi, ai lãnh đạo Afghanistan cũng vậy thôi. Chúng tôi muốn Taliban không có khả năng để tấn công Mỹ. Mong
muốn này đã thực hiện được. Chúng tôi không còn lợi ích nào khác ở Afghanistan. Vậy chúng tôi chiếm đóng đó để làm gì?
J. Z.: Để thực hiện dân chủ hóa?
G. F.: Chúng tôi đã có tư tưởng dân chủ hóa thế giới. Nhưng giờ đây chúng tôi không còn tư tưởng đó. Chúng tôi đã làm công việc của mình và chúng tôi trở về nhà.
J. Z.: Chùn bước?
G. F.: Bởi ngoài lợi ích, chúng tôi còn có trách nhiệm đối với các đồng minh. Ở Việt Nam cũng như ở Afghanistan, chúng tôi không bỏ rơi đồng minh của mình như Pháp ở Angieri. Ngay cả khi chúng tôi vừa tiến hành chiến tranh, vừa phải đối đầu với khủng hoảng.
J. Z.: Khủng hoảng gì? Tài chính? Kinh tế? Chính trị? Xã hội công dân?
G. F.: Đó là khủng khoảng địa lý- chính trị, hậu quả của sự sụp đổ các đế quốc châu Âu. Sau năm 1991, khi Liên Xô tan rã, lần đầu tiên sau 500 năm, không một cường quốc nào của châu Âu là hùng mạnh đối với thế giới.
Liên minh châu Âu (EU) có thể là hùng mạnh, nhưng không biết EU có muốn hay không, và nếu muốn hùng mạnh để làm gì. Trả lời cho câu hỏi những người châu Âu cần EU để làm gì, “để giầu có hơn”.
Khi khủng khoảng đi đến, sự giầu có chựng lại, lý lẽ về mục đích tồn tại UE không đứng vững nữa, Cần thiết phải xác định lại mục đích tồn tại mang tính nguyên tắc của EU. Nhưng không biết dựa trên nguyên tắc sau khủng khoảng như thế nào.
J. Z.: Khủng khoảng đã xẩy ra ở Mỹ?
G. F.: Mỹ là một dự án của đạo đức, quân sự và kinh tế. Nhiều giá trị đã gắn kết chúng tôi với nhau, còn các ông chỉ có một. Sẽ tiếp tục như thế nào? Cần tìm những nguyên tắc mới.
J. Z.: Hòa bình?
G. f.: Ở châu Âu ít người còn nhớ là hòa bình có thể đã không giữ được. Nước Ba Lan đã tồn tại đựoc trong thời kỳ rất khó khăn, bởi có một cái gì đó liên kết các ông lại. Trong danh nghĩa của điều gì để châu Âu tồn tại trong lúc khó khăn?
Sự căng thẳng giữa Đức và Hy Lạp là biểu tượng rất rõ của câu hỏi trên đây. Rằng một nhà nước này của châu Âu đã có lỗi với một nhà nước khác. Đó không phải là một liên minh, đó là khu vực tự do thương mại. Có thể vào hoặc ra mà không mất đi sự đồng nhất.
Không một bang nào có thể ra khỏi USA mà không mất đi sự đồng nhất. Chúng tôi hành động vì lợi ích của nước Mỹ. Không một nước nào trong UE muốn thiệt thòi vì Hy Lạp.
J. Z.: Không một bang nào muốn thiệt thòi vì Detroit hay Albama.
G. F.: Có đấy. Trong vấn đề này chúng tôi đã có tranh cãi căng thẳng. Những người thắng cuộc là những người đã khẳng định Mỹ là một, nhưng được tạo dựng từ nhiều bang. Sự thống nhất đã được chúng tôi gắn kết bằng máu. Còn các ông thì không. Ở chúng tôi, sự việc đã rõ ràng, Ở các ông thì chưa.
J. Z.: Bây giờ ông giải thích.
G. F.: Qua hai nghìn năm, các nhà nước của châu Âu đã cư xử với một phương pháp xác định. Truyền thống này bắt nguồn từ cội rễ văn hóa của châu Âu. Từ hơn chục năm nay, các ông thử thay đổi nó. Nhưng liệu hiện nay diện mạo thay đổi đã đủ chưa?
J. Z.: Tôi hy vọng.
G. F.: Sự đầu tư là chưa đủ. Hãy xem xét các vấn đề của các ông, tôi biết rằng phải phân biệt châu Âu và EU. Châu Âu là một phần của thế giới hiện đại. Giầu có và hiện đại. Còn EU là một thử nghiệm chưa biết tương lai. Nhưng đối với tôi có điều chưa rõ ràng, liệu chúng ta có phải chú ý đến suy nghĩ chiến lược. Tôi cho rằng , chắc chắn chúng ta phải chú ý đến Đức, Ý, Tây Ban Nha, Ba Lan. Và đặc biệt chúng ta phải quan sát Đức.
J. Z.: Bởi vì họ mạnh nhất.
G. F.: Bởi từ nguyên nhân do Đức gây ra trong thế kỷ XX, chúng tôi đã tham gia ba cuộc chiến tranh, chiến tranh lần thứ nhất, chiến tranh lần thứ hai và chiến tranh lạnh.
Không phải chúng tôi vẫn còn lo lắng, nhưng nếu Đức tách ra khỏi châu Âu, chúng tôi phải rất chú ý. Đức là nền kinh tế thứ tư của thế giới. Một nửa thu nhập quốc dân của họ là nhờ vào xuất khẩu. Một quốc gia như vậy phải có một chính sách
ngoại giao.
Bây giờ nói đền đường lối chính trị chủ yếu của châu Âu. Nếu EU tan giã, tình hình sẽ thay đổi. Đó là giấc mơ đen của Mỹ. Chắc đối với Ba Lan cũng vậy. Điều đã liên kết chúng ta và chúng ta cần lẫn nhau.
J. Z.: Thời Bush, Wolfowitz cựu thứ trưởng bộ quốc phòng Mỹ, khi được hỏi về chính sách của Mỹ đối với UE đã trả lời: ”giải thể”. Như vậy ông thứ trưởng đã hiểu sai về lợi ích của Mỹ?
G. F.: Giải thể không nhất thiết làm yếu châu Âu. Nếu Đức tách ra có thể trở thành đấu thủ mạnh của toàn cầu hóa. Nhưng quan trọng hơn là tình hình địa lý – chính trị sẽ thay đổi có tính chất nguyên tắc. Wolfowitz đã hy vọng rằng, nếu giải thể UE, có thể thanh toán được đối thủ là châu Âu. Đó là điều vô lý. Châu Âu cứ tồn tại và sẽ không giữ vai trò nào quan trọng so với trước đây.
J. Z.: Sẽ nguy hiểm hơn?
G. F.: Chưa biết ra sao. Người châu Âu đã không thể tưởng tượng được nếu châu Âu không có EU.
J. Z.: Chúng tôi tự hào về điều này.
G. F.: Bởi các ông nghĩ rằng, sự hình thành EU đã cứu châu Âu khỏi chiến tranh từ năm 1945 đến nay. Đó là sự ngộ nhận.
Đã không có chiến tranh giữa những người châu Âu, vì ở châu Âu, Nga và Mỹ đối đầu nhau. Tình trạng này đã chấm dứt. Theo chúng tôi, UE là một ý tưởng đẹp, nhưng ít hiệu quả. Đã ba năm nay, hàng tuần các ông thông báo rằng các ông đã khắc phục được vấn đề khủng khoảng nợ nần, nhưng đến nay không giải quyết được, bởi vì lợi ích giữa các quốc gia là mâu thuẫn, còn lợi ích chung thì không có biểu tượng và quy tắc. Qua phân tích, tình hình hiện nay không tốt.
J. Z.: Với ý nghĩa như thế nào?
G. F.: Tôi nhìn thấy các cơ quan không hoạt động và nền kinh tế đứng thứ tư từ khi thống nhất năm 1871 đang ở trung tâm của các vấn đề của châu Âu. Tôi không nói rằng nước Đức không bao giờ thay đổi, nhưng tôi nhớ từ năm 1932 Đức đã là một quốc gia tự do dân chủ.
Nhưng tôi suy nghĩ tại sao quan hệ giữa Mỹ và Đức không tốt như nó có thể. Tôi cũng suy nghĩ , mối quan hệ Đức – Nga quan trọng như thế nào. Hai đường trục này trong khoảng 20 – 30 năm tạo ra các vấn đề trong châu Âu. Bởi vậy quan hệ giữa Ba Lan – Đức và Ba Lan – Mỹ có tầm quan trọng mang tính nguyên tắc. Tam giác Mỹ – Đức – Ba Lan có thể quyết định những đề quan trọng cho thế giới.
J. Z.: Các ông không muốn bị lôi cuốn vào Ba Lan với sự có mặt của quân đội Mỹ.
G. F.: Hiện nay không có sự cần thiết. Chiến lược để đảm bảo an ninh cho Ba Lan của chúng tôi là Mỹ là người hợp tác có trách nhiệm. Sự cần thiết là điều khoản sáu tháng. Các ông phải có khả năng tự bảo vệ được sáu tháng. Thời gian cần thiết để chúng tôi kết hợp cùng tham chiến. Nếu chúng tôi hợp lực , Ba Lan cần phải có một quân đội mạnh như quân đội của Izrael để đảm bảo chiến thắng.
J. Z.: Ông thấy đó. Các ông đã thực hiện xây dựng quân đội cùng với nền cộng hòa của các ông. Chúng tôi cũng thấy Israel có một quân đội vững mạnh của nền cộng hòa. Nền cộng hòa của chúng tôi vẫn chưa trưởng thành.
G. F.: Đó là sự mạo hiểm. Các ông phải lựa chọn.
J. Z. Vậy à!
G. F.: Các ông ở giữa Nga và Đức, với gần như 40 triệu dân. Các ông có nền kinh tế lớn, vậy các ông là một quốc gia quan trọng đối với thế giới. Lịch sử của Ba Lan muốn
hướng tới đâu. Rất nhiều người sẽ phải làm việc nặng nhọc để có thay đổi và thực hiện được sự lựa chọn.
Warszawa 29-10-2012
————————————————————
Ghi chú:
(1) McCarthy 1908 – 1957 nhà chính trị Mỹ. 1947 – 1957 là thượng nghị sỹ. Năm 1951 đưa ra chủ trương chống cộng sản nhằm vào những người Mỹ là cộng sản hoăc có thiện cảm với cộng sản. Ông là trưởng tiểu ban điều tra của thượng nghị viện từ 1952 đến 1954.
(2) PiS: Đảng Luật Pháp và Công Lý, đảng hiện có số đại biểu đứng thứ 2 trong quốc hội Ba Lan, do hai anh em song sinh Lech và Jaroslaw Kaczynski sáng lập và lãnh đạo. Đảng có quan điểm cứng rắn đối với Nga.
Tuần báo Polityka phỏng vấn George Friedman
Đinh Minh Đạo dịch
LND: George Friedman, người sáng lập công ty tình báo tư nhân STRATFOR, là một trong những nhà bình luận chính trị của Mỹ thường đưa ra những nhận xét trái chiều. Ông cho rằng trong thế kỷ XXI, Ba Lan cùng với Thổ Nhĩ Kỳ sẽ là hai trong các cường quốc quan trọng của châu Âu và Á.
STRATFOR, công ty tình báo tư nhân, được coi như cái bóng của CIA. Thế giới truyền thông chú ý đến nó khi trong tháng 02 năm nay Wikileak công bố hàng triệu mail gửi đến server của công ty, một công ty nhỏ với 100 nhân viên.
———————————————————–
Jacek Zakowski (J. Z.): Ông họat động tình báo như thế nào?
Georg Friedman (G. F.): Tôi không hoạt động tình báo.
J. Z.: Vậy ông làm gì?
G. F.: Làm công việc như ông đang làm.
J. Z.: Tôi là nhà báo.
G. F.: Tôi là nhà phân tích.
J. Z.: Các ông thu thập tin tức?
G. F.: Công ty chúng tôi là công ty tình báo. Chúng tôi thu thập các thông tin, tổng hợp lại rồi cung cấp cho khách hàng.
J. Z.: Ai trả tiền?
G. F. Trên trang nhà của STRATFOR, không phải trả tiền, ông có thể tìm thấy những báo cáo do những chuyên gia nổi tiếng viết. Tất cả những việc chúng tôi làm đều hợp pháp. Đó là thu thập thông tin chứ không làm gián điệp. Hoạt động của CIA chia ra hai lĩnh vực, thu thập tin tức và tác chiến. Thu thập tin tức để phân tích, còn tác chiến thì tổ chức hoạt động gián điệp. Chúng tôi hoạt động giống như đội thu thập tin tức của “The Economist”, cũng giống như ông.
J. Z.: Nhưng tôi không tuyển mộ điệp viên.
G. F.: Chúng tôi cũng không tuyển mộ điệp viên. Chúng tôi sử dụng những nguồn tin tức.
J. Z.: Nhưng không công khai.
G. F.: Ông muốn mỗi một nguồn tin kèm theo họ tên người cung cấp?
J. Z.: Con bò sữa cung cấp sữa, người bán sữa cũng cung cấp sữa. Ông muốn chứng minh rằng không có sự khác nhau giữa người bán sữa và con bò sữa.
G. F.: Có sự khác nhau đấy. Với tư cách nhà báo ông phải hiểu chuyện gì đã xẩy ra. Tôi là nhà phân tích tình báo, tôi phải biết chuyện gì sẽ xẩy ra.
J. Z.: Ông sử dụng những nguồn tin tức như thế nào?
G. F. : Cũng từ những nguồn giống như ông sử dụng. Chúng tôi tham dự những hội thảo như thế này. Làm quen những nhân vật quan trọng, giữ mối liên hệ thường xuyên. Mời họ cùng ăn trưa, ăn tối. Đặt những câu hỏi, lắng nghe họ trả lời và so sánh. Tổng hợp, phát triển cung cấp cho những người cầnđến nó.
J. Z.: Những nhà ngoại giao thì sao?
G. F.: Phương pháp của STRATFOR là học thuyết địa lý- chính trị. Nguyên tắc cơ bản của nó là mọi mối quan hệ đều có ý nghĩa chính trị. Cuộc trò chuyện giữa chúng ta cũng vậy.
Nó sẽ giúp ông tự rèn luyện mình, tôi cũng vậy. Người ta có thể có hoặc không có ý thức chính trị. Một số người nói chuyện với chúng tôi cởi mở, một số thì kín đáo. Ai mà nói chuyện với ông cởi mở, đặt tên cho họ là”người nói chuyện giấu tên”. Người nói chuyện với tôi kín đáo, tôi gọi họ là “nguồn bí mật”.
J. Z.: Nhưng CIA không đặt tôi viết những báo cáo cho họ?
G. F.: Họ đọc POLITYKA của các ông và bản tin của chúng tôi. Cả hai có ảnh hưởng đến nhận định của họ. Họ không có nguồn cung cấp tốt hơn đâu.
J. Z.: Bây giờ ông làm tôi sợ hãi đấy.
G. F. : Tôi cũng đã sợ hãi, khi tôi hiểu ra mọi việc. Từ những năm trước, tất cả chúng ta đều biết, Afganistan là quả bom nổ chậm. Nhưng năm 2003, CIA đã không hề chuẩn bị cho chiến tranh tại Afganistan. Mọi người đều bất ngờ khi nó xẩy ra. Năm 1989 tại Ba Lan cũng vậy. Thế giới sẽ không an toàn khi mà những cơ quan tình báo lớn nhất không nắm được tình hình ở các vùng then chốt.
J. Z.: Tại sao lại không nắm được?
G. F.: Vì có quá nhiều lãnh đạo và tiền bạc, nên những người lãnh đạo tốt thì được thăng cấp, còn những người thu thập tin tức và phân tích xác đáng thì không. CIA cho rằng, cần phải biết tất cả mọi việc về tất cả mọi người, vì vậy nên không tập trung vào những vấn đề quan trọng.
Họ quen biết tất các cô bồ của tất cả các bộ trưởng của Irak, nhưng không có khái niệm người dân Irak bình thường sẽ làm gì khi quân nước ngoài đổ vào. Ngay cả điều nguy hiểm nhất, đe dọa quân đội Mỹ cũng không được nhắc đến, dù chỉ là trên miệng.
J. Z. : Điều gì đe dọa họ?
G. F. : Dưới chiêu bài dân chủ, thực hiện ý đồ của đế quốc Mỹ.
J. Z.: Tức là?
G. F.: Lãnh đạo thế giới bắt buộc chuyển giao chính quyền cho các nhà kỹ trị. Không phải những người tiếp nhận chính quyền là những người xấu, trong đám họ không có những Stalin. Họ chỉ cố gắng đảm bảo an ninh cho nước Mỹ. Điều đó không có gì xấu. Đáng sợ là ở chỗ là quá trình chuyển giao không tuân thủ các nguyên tắc dân chủ.
J. Z.: Thí dụ?
G. F.: Nói về quá khứ. KGB bảo vệ Liên Xô. Để đối trọng, chúng tôi buộc phải thành lập CIA. Ở chúng tôi cũng hình thành hệ thống can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân. Biểu hiện tồi tệ nhất là xuất hiện chủ nghĩa McCarthy(1). Hiện nay chúng tôi cũng gặp trường hợp tương tự. Để đối phó với những bất chắc do toàn cầu hóa mang đến, đã không làm suy yếu các cơ quan dân chủ.Nhưng chính những suy nghĩ mang tính chất đế quốc tạo ra đe dọa đối với nền cộng hòa chúng tôi.
J. Z.: Tôi không thấy một đế quốc nào không có vấn đề với nền cộng hòa. Bắt đầu từ Rome qua Pháp của Napoleon, Phổ đến nước Nga thời các hoàng đế và nước Nga Xô Viết, các đế quốc được hình thành từ sự trả giá của nền cộng hòa và tan dã khi thử nghiệm dân chủ hóa.
G. F.: Bởi họ còn muốn là những đế quốc. Còn Mỹ không có dụng tâm. Còn có sự khác biệt nữa. Trong mỗi đế quốc có giai cấp sẵn sàng đình chỉ các hoạt động dân chủ. Ở Mỹ không có giai cấp này. Chúng tôi là một xã hội được xây dựng trên nền tảng dân chủ, con cháu chúng tôi còn tiếp tục đấu tranh vì nó.
J. Z. : Còn con trai của ông?
G. F. : Và con gái nữa. Nó đã ở Irak hai năm. Cũng chính vì vậy tôi càng bất bình với CIA. Tôi không chống cuộc chiến tranh này, nhưng tôi chống lại sự chiếm đóng đất nước ở tận cùng thế giới. Đó là điều ngu dại và phi dân chủ.Đã không có ai hỏi chúng tôi xem có muốn chiếm đóng Irak không. Có thể đại đa số trả lời là “không”. Nhưng
trong các nước đế quốc, câu hỏi như thế không được đặt ra. Bởi vậy nền công hòa càng yếu kém đi.
J. Z.: Sẽ làm gì trước tình hình trên đây?
G. F.: Đây là một khó khăn. Trước đây chúng ta đã tưởng rằng phải hàng trăm năm để đấu tranh với những người Xô Viết. Nhưng họ đã biến mất, Liên Xô đã tan dã. Chúng tôi đã tưởng rằng mình hướng dẫn được cả thế giới. Chúng tôi đã cứu Kosovo và các nước khác. Nhưng thực tế đã chỉ ra rằng, một đế quốc đơn độc gặp nhiều khó khăn. Tất cả mọi người chống lại anh và họ còn muốn ở anh một cái gì đó nữa.
Chúng tôi đã rơi vào cái bẫy. Ở các nước nói trên, chúng tôi có những chính quyền không như mong muốn, cũng không ai muốn dứt nó ra khỏi chúng tôi.
Tất cả mọi người đều nói, rằng thế giới phải đa cực, nhưng không ai bắt tay để tạo ra một cực khác. Syria là một ví dụ rõ ràng. Chúng ta đã không làm gì, tất cả chúng ta sẽ có tội với hàng nghìn những nạn nhân. Nếu chúng tôi làm cái gì đó, tình hình sẽ lại giống như trước đây.
J. Z. Các ông sẽ bình thản đứng nhìn những diễn biến?
G. F. Vùng Địa Trung Hải là vấn đề của những người châu Âu. Chúng tôi đã giúp đỡ các ông tại Libya. Các ông không thể mãi mãi lợi dụng chúng tôi. Nước Mỹ đã hiểu rằng, họ không thể làm được tất cả mọi việc.
Chúng tôi không có quyền lợi gì đáng kể tại Libya cũng như tại Syria. Chúng tôi không tiếp nhận bất cứ một vai trò nào tại đây. Tại sao chúng tôi lại phải chết tại đó? Tại nước Mỹ, ngày càng phát triển suy nghĩ, rằng chúng tôi không mong muốn là một đế quốc như vậy. Nhưng không ai tin chúng tôi, cũng chẳng ai cám ơn chúng tôi.
J. Z. Bởi các ông như con voi quá lớn trong bãi lầy toàn cầu hóa.
G. F. Chúng tôi không thể gầy đi trong một vài ngày. Chúng tôi cố gắng để không phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô, để thu nhỏ lại cái thân thể đế quốc cồng kềnh của mình. Nhưng không đơn giản. Những người châu Âu hiểu rõ nhất, quản lý một quốc gia 340 triệu dân là một quá trình phức tạp.
Dù là Obama hay Romney cũng không thể thay đổi được nước Mỹ và thế giới trong một đêm hay một một nhiệm kỳ. Mười năm nay chúng tôi đã chiến đấu, như thế đủ rồi. Cuộc chiến tranh tiếp sau đây của chúng tôi, phải là cuộc chiến tranh liên quan trực tiếp đến lợi ích của nước Mỹ.
J. Z.: Có lợi ích của nước Mỹ trong việc bảo vệ các hòn đảo của Nhật trước Trung Quốc?
G. F.: Đó không phải là vấn đề chính trị quan trọng của chúng tôi.
J. Z.: Chiến tranh với Trung Quốc không quan trọng?
G. F. : Chiến tranh với Trung Quốc sẽ không xẩy ra. Không thể chiếm đóng Trung Quốc. Trung Quốc không có hàng không mẫu hạm.
J. Z.: Họ có tầu sân bay.
G. F. : Một chiếc. Họ không thể tấn công chúng tôi. Còn chúng tôi không thể tấn công họ. Khi Trung Quốc tấn công Nhật, Đài Loan hay Nam Triều Tiên, chúng tôi có thể giúp đỡ nhưng không gửi quân tới Trung Quốc. Tại Washington đã có cuộc gặp gỡ ở cấp thứ trưởng phụ trách các vấn đề viễn đông.
J. Z.: Khi Trung Quốc tấn công các hòn đảo nhỏ…
G. F.: Không tấn công. Họ chỉ đưa các tầu đánh cá và các tầu pháo hạm nhỏ. Đó chưa đủ để tiến hành chiến tranh với Mỹ. Trung Quốc là một nước lớn, nhưng họ có những khó khăn mà ngay một nước lớn hùng mạnh cũng không giải quyết được. Khi Liên Xô chiếm Litva, Mỹ cũng đã bó tay. Ai đã có thể bảo vệ được Litva?
J. Z.: NATO?
G. F.: Ba Lan đã có thể bảo vệ được Litva?
J. Z.: Ba Lan PiS (2) đã có thể bảo vệ.
G. F. : Bảo vệ như thế nào? Bằng cách nào? An ninh và chiến tranh là những vấn đề quan trọng. Không được tự do tạo ra ảo giác. Mỹ kiểm soát các đại dương. Nhưng không thể kiểm soát từng chỗ trên trái đất. Khi là đế quốc non trẻ, Mỹ đã thử nghiệm và biết rằng không thể làm được điều đó.
Trung Quốc hiểu rằng, không thể tấn công Nhật cũng như Đài Loan, bởi chúng tôi kiểm soát các đại dương. Chúng tôi biết không kịp giúp đỡ một số nước nếu Nga tấn công họ. Nhưng Nga và Trung Quốc không phải là những vấn đề chiến lược của chúng tôi. Vấn đề là sự phục hưng NhậtBản thành một cường quốc hùng mạnh về quân sự.
J. Z.: Sẽ đe dọa hay mang lại hy vọng đối với Mỹ?
G. F.: Chúng tôi hậu thuẫn cho sự lớn mạnh bước đầu của Nhật. Nhưng về lâu dài, bất cứ một cường quốc hải quân nào ở Thái Bình Dương đêù đe dọa Mỹ. Chúng tôi luôn luôn theo phương châm này. Chúng tôi đã hậu thuẫn cho Stalin chống lại Hitle, sau đó chúng tôi lại giúp kẻ thù của mìnhxây dựng lại.
J. Z.: Trung Quốc sẽ đóng hai tầu sân bay nữa. Theo các kế hoạch tiếp theo, khoảng hơn chục năm nữa họ sẽ có hạm đội.
G. F.: Cũng có thể không có. Kinh tế của họ đang phát triển chậm lại. Trong toàn vùng như một sân khấu của địa lý- chính trị. Nhà hát của điệu bộ và tập quán của từng địa phương – Trung Quốc, Nhật, Filipin, Indonesia, Nam Triều Tiên. Nhưng không một nước nào có hạm đội để vươn ra ngoài lãnh thổ của họ.
J. Z. : Trung Quốc sẽ có hạm đội.
G. F.: Để có hạm đội, có các tầu thủy thôi chưa đủ. Phải mất 10 năm trên tầu để trở thành thuyền trưởng, 20 năm để trở thành đô đốc. Để xây dựng một hạm đội phải mất nửa thế kỷ. Sau nửa thế kỷ nữa, có thể hạm đội vũ trụ sẽ trở nên quan trọng hơn hạm đội hải quân. Vì vậy tôi rất buồn về châu Âu. Châu Âu hiện nay giống như diện mạo của năm 1991, 17 năm sau đó đã đi đến khủng khoảng. Sau 5 năm vẫn chưa khắc phục được nó.
J. Z. : Nhật sau 20 năm vẫn chưa khắc phục được khủng khoảng.
G. F.: Nhưng với châu Âu, chúng tôi có mối quan hệ đặc biệt. Trong 10 năm gần đây mối quan hệ này đáng tiếc.
Z. F.: Đối với Mỹ?
G. F.: Tất nhiên. Người Mỹ cảm thấy trong thế kỷ XX, hoạt động ngoại giao của châu Âu đã thu hẹp lại một nửa, và chúng tôi đã phải gánh vác. Từ 1948 đến 1991 chúng tôi đã chi phí tốn kém để bảo vệ châu Âu. Các ông chỉ giúp chúng tôi chút ít ở Apganistan. Ngoài ra các ông chỉ đứng ngoài phê phán.
J. Z.: Chủ yếu là chiến tranh ở Iraq.
G. F.: Ngay cả nếu chiến tranh Iraq là cuộc chiến tranh ngu ngốc, chúng tôi đơn độc gặp rắc rối ở đó, các ông có lỗi khi không giúp đỡ chúng tôi. Nếu các ông không muốn giúp đỡ, các ông phải ngồi im khi chúng tôi đang chết trên są mạc. Khi
chúng tôi so sánh sai lầm của chúng tôi ở Iraq với những sai lầm của châu Âu trong chiến tranh thế giới lần thứ I và II mà Mỹ đã phải trả bằng máu và tiền của, chúng tôi cảm thấy mình bị lừa dối. Chúng tôi đã không phê phán Pháp không giải quyết được vấn đề với Hitle. Tại sao Pháp lại phê phán chúng tôi không thanh toán được Bin Laden?
J. Z.: Các ông đã can dự vào sự mạo hiểm mà nó không hề đe dọa các ông. Các ông đã không có yêu cầu cần được cấp cứu như châu Âu cách đây 60 năm.
G. F.: Nhưng tại sao sau những kinh nghiệm như vậy, Mỹ lại phải đảm bảo an ninh – cho Ba Lan chẳng hạn?
J. Z.: Rumsfeld đã có câu trả lời logic. Châu Âu già cỗi không tốt, châu Âu trẻ tốt. Ba Lan là “châu Âu trẻ”.
G. F. :Vai trò địa lý- chính trị cho câu trả lời xác đáng hơn. Ba Lan nằm kẹp giữa Nga và Đức, đó là vị trí quan trọng để cân bằng trong khu vực. Sự liên minh của các ông với Mỹ sẽ giảm những bất trắc về an ninh và vượt trội so với liên minh Đức – Nga.
Chúng ta có chung lợi ích, chúng ta cũng có lý do để bảo đảm an ninh cho châu Âu già cỗi. Nhưng lần này không biết chúng tôi sẽ trông đợi gì vào châu Âu? Tình
cảm bị phản bội rất phổ biến hiện nay ở Mỹ.
J. Z.: Sắp đặt lại NATO?
G. F.: Cần một lực lượng có khả năng giữ sự ổn định của thế giới. Nếu quan hệ giữa Mỹ và châu Âu không chặt chẽ, cả thế giới sẽ có vấn đề.
J. Z.: Ông nghĩ rằng, sự vỡ mộng đối với châu Âu và gánh nặng để duy trì một đế quốc đã đẩy Mỹ đến chủ nghĩa cách ly mới?
G. F.: Câu hỏi khá thú vị, có phải châu Âu hướng tới chủ nghĩa cách ly? Châu Âu về dân số và kinh tế lớn hơn Mỹ.
Chúng tôi chịu trách nhiệm về trật tự toàn cầu hóa, còn các ông nuôi dưỡng chủ nghĩa cách ly. Để biện giải cho lý do không hoạt động và hành động rất ít, các ông đã nghĩ ra „sức mạnh mềm”, điều mà tôi hoàn toàn không hiểu được.
J. Z.: Sức mạnh mềm do giáo sư Nye của Harvard đưa ra. Đó là đề xuất hay của Mỹ để thực hiện và bảo vệ giấc mơ dân chủ, Hollywood và các ngân hàng thay thế các tầu sân bay.
G. F.: Đó là biểu hiện sự kết nối từ Mỹ đến chủ nghĩa cách ly của châu Âu. Bây giờ câu hỏi được đặt ra là, nếu không có sự hỗ trợ của châu Âu, Mỹ sẽ tiếp tục đường lối chính trị can thiệp?
J. Z.: Sẽ tiếp tục?
G. F.: Vấn đề phụ thuộc vào các ông. Nếu châu Âu không làm gì trong tình hình Syria, còn cáo buộc Mỹ không hành động gì. Nếu châu Âu can thiệp vào Libya, sau vài ngày đã ca thán rằng, thiếu lực lượng và yêu cầu Mỹ tham gia, Mỹ sẽ đi đến với chủ nghĩa cách ly. Châu Âu hãy trưởng thành, châu Âu hãy nhận lấy trách nhiệm ở những khu vực gần kề với mình.
J. Z.: Châu Âu đẩy các ông đến chủ nghĩa cách ly?
G. F. : Tất nhiên rồi. Cơ quan liên kết chúng ta mang tính chiến lược là NATO. Liên minh châu Âu, Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ là cái trục trật tự của thế giới. Như chúng ta thấy, sự liên kết thiếu chặt chẽ của châu Âu với NATO khiến chúng tôi phải cân nhắc, ngày nay NATO có ý nghĩa gì.
Châu Âu tự mình không đặt ra câu hỏi này, bởi càng ngày càng ít chú ý đến thế giới, càng ngày càng hiểu thế giới ít hơn. Cho nên câu hỏi quan trọng nhất hiện nay là câu hỏi về châu Âu. Tương lai không phụ thuộc vào Trung Quốc, vào những người hồi giáo hay Mỹ, mà phụ thộc vào châu Âu. Châu Âu có thể gánh vác mỗi một vai trò, nhưng phải lựa chọn cái nào đó. Nằm ngoài phạm vi của các ông là hai quốc gia mà các ông chưa xác định vai trò của họ, đó Mỹ và Thổ. Điều này đe dọa tất cả các các nước. Vì vậy Mỹ sẽ kiên trì chờ đợi cho đến khi các ông bắt đầu làm một cái gì đó.
J. Z.: Chúng tôi phải tiến vào Syria để thuyết phục các ông, rằng chúng tôi đã trưởng thành?
G. F.: Hãy làm cái gì đó mà các ông muốn. Chúng tôi không có lợi ích cơ bản nào ở Syria.
J. Z.: Các ông có lợi ích cơ bản trong tương lai của Israel.
G. F.: Trước đây đã như vậy, giờ thì không. Đến những năm 70, sự tồn tại của Israel đối với Mỹ là nguyên tắc. Bây giờ vấn đề rất phức tạp. Nếu như chỉ chú ý đến sự tồn tại của nhà nước Israel thì vấn đề có thể là trầm trọng. Nếu chú ý đến khu dân cư ở Bờ Tây, đối với chúng tôi không có gì quan trọng. Sự tồn tại của Israel không bị de dọa. Chỉ có tồn tại trong tình hình không thuận lợi.
Bởi vậy trong vấn đề ném bom Iran, người Israel và người Mỹ đã suy nghĩ rất khác nhau. Israel muốn tấn công. Chúng tôi cho rằng, đó là một giải pháp rất mạo hiểm, mà kết quả sẽ rất hạn chế. Tốt nhất là tìm giải pháp thương lượng với Iran. Những người Iran không phải là những người mất trí. Họ sẽ không tấn công, vì họ biết nếu tấn công họ sẽ bị trả thù. Họ yêu con cái và không muốn chúng phải chết. Họ chế tạo tên lửa và bom để bảo vệ chế độ . Họ sợ Mỹ sẽ hành động như ở Afghanistan và Iraq.
J. Z.: Chế tạo bom là hợp pháp?
G, F.: Mỹ tin rằng, cả hai phía sẽ đảm bảo hòa bình. Quan hệ giữa Israel và Iran tương tự như giữa chúng tôi và Liên Xô trước đây. Ngay cả nếu Iran chế tạo được bom, họ cũng hiểu rằng, nếu họ sử dụng nó, Israel sẽ trả đũa và họ sẽ biến mất. Điều này đủ lý do để không tấn công Iran.
J. Z.: Israel chưa tin chắc điều này.
G, F.: Bởi vậy chúng tôi tranh luận. Thế giới vẫn tiếp tục chờ đợi Mỹ sẽ giải quyết mỗi khủng khoảng từng vùng. Còn chúng tôi đã hiểu rằng, đó là sự vô lý.
J. Z.: Bởi giờ đây các ông không còn mạnh như trước?
G. F.: Chúng tôi có thể chiến thắng quân đội của mỗi nước, nhưng chúng tôi không biết cách chiếm đóng. Chúng tôi có thể chiếm đóng Afghanistan vô thời hạn nếu chúng tôi chấp nhận mỗi năm 2000 lính Mỹ chết.
Nhưng điều này chúng tôi không muốn. Chúng tôi tự hiểu ra rằng, đối với chúng tôi, ai lãnh đạo Afghanistan cũng vậy thôi. Chúng tôi muốn Taliban không có khả năng để tấn công Mỹ. Mong
muốn này đã thực hiện được. Chúng tôi không còn lợi ích nào khác ở Afghanistan. Vậy chúng tôi chiếm đóng đó để làm gì?
J. Z.: Để thực hiện dân chủ hóa?
G. F.: Chúng tôi đã có tư tưởng dân chủ hóa thế giới. Nhưng giờ đây chúng tôi không còn tư tưởng đó. Chúng tôi đã làm công việc của mình và chúng tôi trở về nhà.
J. Z.: Chùn bước?
G. F.: Bởi ngoài lợi ích, chúng tôi còn có trách nhiệm đối với các đồng minh. Ở Việt Nam cũng như ở Afghanistan, chúng tôi không bỏ rơi đồng minh của mình như Pháp ở Angieri. Ngay cả khi chúng tôi vừa tiến hành chiến tranh, vừa phải đối đầu với khủng hoảng.
J. Z.: Khủng hoảng gì? Tài chính? Kinh tế? Chính trị? Xã hội công dân?
G. F.: Đó là khủng khoảng địa lý- chính trị, hậu quả của sự sụp đổ các đế quốc châu Âu. Sau năm 1991, khi Liên Xô tan rã, lần đầu tiên sau 500 năm, không một cường quốc nào của châu Âu là hùng mạnh đối với thế giới.
Liên minh châu Âu (EU) có thể là hùng mạnh, nhưng không biết EU có muốn hay không, và nếu muốn hùng mạnh để làm gì. Trả lời cho câu hỏi những người châu Âu cần EU để làm gì, “để giầu có hơn”.
Khi khủng khoảng đi đến, sự giầu có chựng lại, lý lẽ về mục đích tồn tại UE không đứng vững nữa, Cần thiết phải xác định lại mục đích tồn tại mang tính nguyên tắc của EU. Nhưng không biết dựa trên nguyên tắc sau khủng khoảng như thế nào.
J. Z.: Khủng khoảng đã xẩy ra ở Mỹ?
G. F.: Mỹ là một dự án của đạo đức, quân sự và kinh tế. Nhiều giá trị đã gắn kết chúng tôi với nhau, còn các ông chỉ có một. Sẽ tiếp tục như thế nào? Cần tìm những nguyên tắc mới.
J. Z.: Hòa bình?
G. f.: Ở châu Âu ít người còn nhớ là hòa bình có thể đã không giữ được. Nước Ba Lan đã tồn tại đựoc trong thời kỳ rất khó khăn, bởi có một cái gì đó liên kết các ông lại. Trong danh nghĩa của điều gì để châu Âu tồn tại trong lúc khó khăn?
Sự căng thẳng giữa Đức và Hy Lạp là biểu tượng rất rõ của câu hỏi trên đây. Rằng một nhà nước này của châu Âu đã có lỗi với một nhà nước khác. Đó không phải là một liên minh, đó là khu vực tự do thương mại. Có thể vào hoặc ra mà không mất đi sự đồng nhất.
Không một bang nào có thể ra khỏi USA mà không mất đi sự đồng nhất. Chúng tôi hành động vì lợi ích của nước Mỹ. Không một nước nào trong UE muốn thiệt thòi vì Hy Lạp.
J. Z.: Không một bang nào muốn thiệt thòi vì Detroit hay Albama.
G. F.: Có đấy. Trong vấn đề này chúng tôi đã có tranh cãi căng thẳng. Những người thắng cuộc là những người đã khẳng định Mỹ là một, nhưng được tạo dựng từ nhiều bang. Sự thống nhất đã được chúng tôi gắn kết bằng máu. Còn các ông thì không. Ở chúng tôi, sự việc đã rõ ràng, Ở các ông thì chưa.
J. Z.: Bây giờ ông giải thích.
G. F.: Qua hai nghìn năm, các nhà nước của châu Âu đã cư xử với một phương pháp xác định. Truyền thống này bắt nguồn từ cội rễ văn hóa của châu Âu. Từ hơn chục năm nay, các ông thử thay đổi nó. Nhưng liệu hiện nay diện mạo thay đổi đã đủ chưa?
J. Z.: Tôi hy vọng.
G. F.: Sự đầu tư là chưa đủ. Hãy xem xét các vấn đề của các ông, tôi biết rằng phải phân biệt châu Âu và EU. Châu Âu là một phần của thế giới hiện đại. Giầu có và hiện đại. Còn EU là một thử nghiệm chưa biết tương lai. Nhưng đối với tôi có điều chưa rõ ràng, liệu chúng ta có phải chú ý đến suy nghĩ chiến lược. Tôi cho rằng , chắc chắn chúng ta phải chú ý đến Đức, Ý, Tây Ban Nha, Ba Lan. Và đặc biệt chúng ta phải quan sát Đức.
J. Z.: Bởi vì họ mạnh nhất.
G. F.: Bởi từ nguyên nhân do Đức gây ra trong thế kỷ XX, chúng tôi đã tham gia ba cuộc chiến tranh, chiến tranh lần thứ nhất, chiến tranh lần thứ hai và chiến tranh lạnh.
Không phải chúng tôi vẫn còn lo lắng, nhưng nếu Đức tách ra khỏi châu Âu, chúng tôi phải rất chú ý. Đức là nền kinh tế thứ tư của thế giới. Một nửa thu nhập quốc dân của họ là nhờ vào xuất khẩu. Một quốc gia như vậy phải có một chính sách
ngoại giao.
Bây giờ nói đền đường lối chính trị chủ yếu của châu Âu. Nếu EU tan giã, tình hình sẽ thay đổi. Đó là giấc mơ đen của Mỹ. Chắc đối với Ba Lan cũng vậy. Điều đã liên kết chúng ta và chúng ta cần lẫn nhau.
J. Z.: Thời Bush, Wolfowitz cựu thứ trưởng bộ quốc phòng Mỹ, khi được hỏi về chính sách của Mỹ đối với UE đã trả lời: ”giải thể”. Như vậy ông thứ trưởng đã hiểu sai về lợi ích của Mỹ?
G. F.: Giải thể không nhất thiết làm yếu châu Âu. Nếu Đức tách ra có thể trở thành đấu thủ mạnh của toàn cầu hóa. Nhưng quan trọng hơn là tình hình địa lý – chính trị sẽ thay đổi có tính chất nguyên tắc. Wolfowitz đã hy vọng rằng, nếu giải thể UE, có thể thanh toán được đối thủ là châu Âu. Đó là điều vô lý. Châu Âu cứ tồn tại và sẽ không giữ vai trò nào quan trọng so với trước đây.
J. Z.: Sẽ nguy hiểm hơn?
G. F.: Chưa biết ra sao. Người châu Âu đã không thể tưởng tượng được nếu châu Âu không có EU.
J. Z.: Chúng tôi tự hào về điều này.
G. F.: Bởi các ông nghĩ rằng, sự hình thành EU đã cứu châu Âu khỏi chiến tranh từ năm 1945 đến nay. Đó là sự ngộ nhận.
Đã không có chiến tranh giữa những người châu Âu, vì ở châu Âu, Nga và Mỹ đối đầu nhau. Tình trạng này đã chấm dứt. Theo chúng tôi, UE là một ý tưởng đẹp, nhưng ít hiệu quả. Đã ba năm nay, hàng tuần các ông thông báo rằng các ông đã khắc phục được vấn đề khủng khoảng nợ nần, nhưng đến nay không giải quyết được, bởi vì lợi ích giữa các quốc gia là mâu thuẫn, còn lợi ích chung thì không có biểu tượng và quy tắc. Qua phân tích, tình hình hiện nay không tốt.
J. Z.: Với ý nghĩa như thế nào?
G. F.: Tôi nhìn thấy các cơ quan không hoạt động và nền kinh tế đứng thứ tư từ khi thống nhất năm 1871 đang ở trung tâm của các vấn đề của châu Âu. Tôi không nói rằng nước Đức không bao giờ thay đổi, nhưng tôi nhớ từ năm 1932 Đức đã là một quốc gia tự do dân chủ.
Nhưng tôi suy nghĩ tại sao quan hệ giữa Mỹ và Đức không tốt như nó có thể. Tôi cũng suy nghĩ , mối quan hệ Đức – Nga quan trọng như thế nào. Hai đường trục này trong khoảng 20 – 30 năm tạo ra các vấn đề trong châu Âu. Bởi vậy quan hệ giữa Ba Lan – Đức và Ba Lan – Mỹ có tầm quan trọng mang tính nguyên tắc. Tam giác Mỹ – Đức – Ba Lan có thể quyết định những đề quan trọng cho thế giới.
J. Z.: Các ông không muốn bị lôi cuốn vào Ba Lan với sự có mặt của quân đội Mỹ.
G. F.: Hiện nay không có sự cần thiết. Chiến lược để đảm bảo an ninh cho Ba Lan của chúng tôi là Mỹ là người hợp tác có trách nhiệm. Sự cần thiết là điều khoản sáu tháng. Các ông phải có khả năng tự bảo vệ được sáu tháng. Thời gian cần thiết để chúng tôi kết hợp cùng tham chiến. Nếu chúng tôi hợp lực , Ba Lan cần phải có một quân đội mạnh như quân đội của Izrael để đảm bảo chiến thắng.
J. Z.: Ông thấy đó. Các ông đã thực hiện xây dựng quân đội cùng với nền cộng hòa của các ông. Chúng tôi cũng thấy Israel có một quân đội vững mạnh của nền cộng hòa. Nền cộng hòa của chúng tôi vẫn chưa trưởng thành.
G. F.: Đó là sự mạo hiểm. Các ông phải lựa chọn.
J. Z. Vậy à!
G. F.: Các ông ở giữa Nga và Đức, với gần như 40 triệu dân. Các ông có nền kinh tế lớn, vậy các ông là một quốc gia quan trọng đối với thế giới. Lịch sử của Ba Lan muốn
hướng tới đâu. Rất nhiều người sẽ phải làm việc nặng nhọc để có thay đổi và thực hiện được sự lựa chọn.
Warszawa 29-10-2012
————————————————————
Ghi chú:
(1) McCarthy 1908 – 1957 nhà chính trị Mỹ. 1947 – 1957 là thượng nghị sỹ. Năm 1951 đưa ra chủ trương chống cộng sản nhằm vào những người Mỹ là cộng sản hoăc có thiện cảm với cộng sản. Ông là trưởng tiểu ban điều tra của thượng nghị viện từ 1952 đến 1954.
(2) PiS: Đảng Luật Pháp và Công Lý, đảng hiện có số đại biểu đứng thứ 2 trong quốc hội Ba Lan, do hai anh em song sinh Lech và Jaroslaw Kaczynski sáng lập và lãnh đạo. Đảng có quan điểm cứng rắn đối với Nga.
Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012
Con lừa giữa hai bó cỏ
Con lừa Buridan.
Phương pháp ra quyết định này được sử dụng khi bạn phải đối mặt với nhiều lựa chọn hấp dẫn như nhau. Bản chất của nó bắt nguồn từ một câu chuyện ngụ ngôn về một con lừa được đặt giữa hai bó cỏ khô ngon lành.
Con lừa không thể quyết định lựa chọn bó cỏ khô nào ngon hơn để ăn, và kết quả là con lừa đó đã chết đói chỉ vì sự thiếu quyết đoán này.
Phương pháp này chỉ đơn giản là lên danh sách các điểm tiêu cực hay mặt hạn chế của mỗi quyết định, bởi vì khi có nhiều lựa chọn tương đương nhau, chúng ta sẽ trở nên lúng túng và có thể bỏ qua một số mặt hạn chế nào đó.
Kỹ thuật này thực sự hữu ích đối với một quyết định có nhiều lựa chọn khác nhau và quyết định sẽ được ban hành trên cơ sở phân tích xem lựa chọn nào có ít mặt hạn chế hơn cả.http://www.khoinghiep.info/kien-thuc-co-ban/cac-khai-niem-co-ban/3231-quyet-dinh-kd-ky-nang-can-biet.html?start=1
Bài tập hôm nay:
Bó cỏ 1: tẩm hóa chất, ăn xong khoảng 10 năm sau sẽ chết
Bó cỏ 2: Cỏ khô, mỗi lần gặm là ăn một phát đá phọt cứt
Hỏi lừa chọn bó cỏ nào.
Con lừa giữa 2 bó cỏ là trường hợp của Tây, vậy ta có bài toán nào tương tự?
Có ngay:
Đang khi lửa tắt, cơm sôi, lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem
Được các cụ coi là tình huống nan giải nhất mà người phụ nữ truyền thống phải giáp mặt đối phó.
Xưa nấu cơm bếp củi, bếp rơm, mùn, than...canh lửa rất khó, nó mà tắt chổng mông thổi lửa nhóm lại rất mệt và phức tạp cho nên cơm rất dễ bị trên sống dưới khê giữa nhão nhoét chớ nấu nồi cơm không dễ dàng như ngày nay.
Ngay cả 1 chị đầy kinh nghiệm vẫn có thể bị nồi cơm khê, bù lại nấu nồi gang, vùi than rơm thì ăn ngon thôi rồi, nhứt là cháy cứ giòn tan vàng rộm.
Lợn (heo) trừ 1 thời gian ngắn say mê lên CNXH bị lơ là chớ gần như được coi trọng ngang người, thời bao cấp thì hơn cả GSTS. Nó mà réo đói thì phải phục vụ ngay.
Hồi đó lại tam đại đồng đường, heo không im mõm thì mẹ chồng chửi xéo rát mặt, rất rầy rà.
Con khóc thì các mẹ biết rồi, phụ nữ có con thì con là nhất, chồng gần như không còn trong bộ nhớ.
Chồng bị bỏ quên nên ảnh giở võ cho nhớ. Ảnh đòi tòm tem. Xưa chồng nắm tài sản nên oai như cóc, chồng muốn là phải chiều chớ không phải như ngày nay, khi nào chị em khều thì chồng mới được phép.
Nói thế để biết tình huống khó khăn nan giải chớ không dễ như cách chọn lựa ra quyết định trong bài viết thú vị này:
Tình huống vui khó đỡ khi đi phỏng vấn, chia sẻ từ status của anh Nguyễn Thanh Sơn Ogilvy
Khi tuyển nhân viên, mình hay hỏi họ nếu em lâm vào tình huống như câu ca dao "trong khi lửa tắt cơm sôi, lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem" thì em sẽ làm gì?
Nếu em ấy bảo "em chiều chồng trước, vì nếu không nó ngầy ngà lắm, còn thiếu đi bữa ăn, con khóc rồi nín, lợn kêu kệ mịa lợn" thì em đó sẽ làm việc cần mẫn, cái gì cũng vâng dạ với sếp và với khách hàng, làm nhân viên 10 năm vẫn nguyên một vị trí.
Nếu em ấy bảo "em cho con em ăn đã, nó còn bé tội tình gì, người lớn thiếu bữa ăn hay nhịn cái khoản kia tý có sao, còn lợn kệ mịa lợn" thì em ấy là người hay vun vén cho bản thân, cái gì cũng có lợi mới làm, khách hàng, nhân viên hay đồng nghiệp đều xếp hàng sau
Nếu em ấy bảo " đi làm về mệt bỏ mẹ, chồng với con là cái cục nợ, em phải nấu cho xong cái nồi cơm không cả nhà nhịn thì có chiều chồng nó cũng không thoải mái, cho lợn ăn, dỗ đứa bé xong, rồi đấy ông muốn làm gì thì làm" thì là bạn làm việc khoa học, ít cảm xúc, công việc rành rẽ gọn gàng
Còn nếu em ấy bảo em sẽ bảo chồng muốn làm tý thì đi trông cho tôi nồi cơm, cơm chín thì tôi chiều, trong lúc đó em ôm con ra cho nó xem em cho lợn ăn nó vui nó hết khóc- bạn này nên tuyển ngay, vì như vậy có tư chất làm lãnh đạo
Tất nhiên cũng có lần gặp có em bảo em "chồng còn chả có, có chi con", nhà em chưa bao giờ nuôi lợn và em cũng không phải nấu cơm bao giờ...vâng loại này thì vờ vĩnh hỏi tiếp mấy câu nữa rồi giải tán ngay và luôn
Cũng có lần gặp được của quí, đó là ngoài trả lời như trường hợp 4 còn thêm vào một câu, em cũng dặn với là trông cơm mà để cháy nồi cơm hay cháy "cái kia" thì ông nghỉ nhé- vừa có tư chất lãnh đạo vừa hiểu risk management
Nếu em ấy bảo " đi làm về mệt bỏ mẹ, chồng với con là cái cục nợ, em phải nấu cho xong cái nồi cơm không cả nhà nhịn thì có chiều chồng nó cũng không thoải mái, cho lợn ăn, dỗ đứa bé xong, rồi đấy ông muốn làm gì thì làm" thì là bạn làm việc khoa học, ít cảm xúc, công việc rành rẽ gọn gàng
Còn nếu em ấy bảo em sẽ bảo chồng muốn làm tý thì đi trông cho tôi nồi cơm, cơm chín thì tôi chiều, trong lúc đó em ôm con ra cho nó xem em cho lợn ăn nó vui nó hết khóc- bạn này nên tuyển ngay, vì như vậy có tư chất làm lãnh đạo
Tất nhiên cũng có lần gặp có em bảo em "chồng còn chả có, có chi con", nhà em chưa bao giờ nuôi lợn và em cũng không phải nấu cơm bao giờ...vâng loại này thì vờ vĩnh hỏi tiếp mấy câu nữa rồi giải tán ngay và luôn
Cũng có lần gặp được của quí, đó là ngoài trả lời như trường hợp 4 còn thêm vào một câu, em cũng dặn với là trông cơm mà để cháy nồi cơm hay cháy "cái kia" thì ông nghỉ nhé- vừa có tư chất lãnh đạo vừa hiểu risk management
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

