Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

Con đường binh anh đi

16.12.20
Con gà và quả trứng kiểu VN 
Người VN thích ăn chớ không có kiểu suy tư con gà quả trứng cái nào có trước viển vông. 
Trứng gà: 
 - Người bắc ăn cùng cơm, hết cơm là hết trứng, vừa xinh kiểu kế hoạch hóa, 3 lợi ích mình ngon nhứt 
- Người trung: ăn cơm chan nước mắm, trứng gỗ ăn cuối cùng thể hiện lo xa quá 
- Người nam: ăn trứng trước rồi mới ăn cơm kiểu hết nạc vạc xương, dễ làm khó bỏ 
Đầu gà: 
- Người bắc: chia làm 6 phần bằng nhau, miếng giữa làng hơn sàng xó bếp 
- Người trung: gắp cho người cao tuổi nhất, giống thiết chế CTN quá kkk 
- Người nam: lấy quay đầu gà gầy độ nhậu tiếp. Công tử bạc liêu say xỉn liêu xiêu 
Mất gà: 
- Người bắc chửi thành huyền thoại bài ca trộm gà 
- Người nam: lèm bèm thí cô hồn (theo giải thích của Quang nhà lẩy Kiều kiểu lầy có số má) 
- Người trung: Trịnh kiểm trộm gà thì mẹ bị vứt xuống khe

"Những nẻo đường trải sẵn thảm và hoa, cuối cùng cũng dẫn vào mê lộ."
Thoạt tiên cha mẹ còn trẻ, cả bộ máy như 1 hệ thống, cơ hội thân hữu, lợi ích nhóm chưa xuất hiện, cây chổi kinh tế thị trường chưa quét tung, quét sạch mọi thứ trên đường đi của nó thì anh được (ba mẹ nào cũng lo xa) đưa vô làm:
- Kiểu binh: lính kiểng, gửi gắm, làm việc cho có tụ, lấy quan hệ xã hội là chính. Làm mọi việc, trừ công việc quy định trong hợp đồng.
- Khi cha mẹ sắp hưu, cuống lên thì anh trở thành kiệu binh: được cha mẹ kiệu lên, vọt qua đầu những người bao năm miệt mài. 
Ngự trị trên đầu, ngon làn tưởng như thời kỳ tập ấm đã quay trở lại. 
Ngon quá nên không bền. Đã thế tử mà còn đi tắt đón đầu thì chỉ cần rút phích cắm là tắt điện
- Ngó vậy nhưng nhiều anh phù hợp, trụ được: dưới thời 3 lợi ích mà lợi ích cho bản thân lên tới 99%, còn 2 lợi ích kia 1% thì anh như hoa lan ngát hương quyến rũ biết bao. 
Tiền quyên vô tay nhiều quá, anh trở thành kiêu binh. Thủ kho to hơn thủ trưởng, lan ăn trụ cả cây mà nó ký sinh.
Đảo lộn tự nhiên, trật tự quản trị thế là không được, thể nào cũng bị thủ trưởng trị vì cuối cùng chủ vẫn phải là chủ, đâu lộn xộn được.
Kiêu binh sau vụ giết quận Huy, lật nhà Chúa bị thất bại đã bị tan rã, mồm ngậm tăm len lét chạy về quê. 
Ngậm tăm để không mở mồm, dân mà nghe trọ trẹ là họ ùa vào đánh cho nhừ từ vì ghét lũ kiêu binh này quá. 
Đó là chuyện xưa, nay có tiền, thế giới là 1 ngôi làng thì anh trở thành kiều binh. 
Kiều binh hãy im lặng nhé, gáy le te là dễ bị như Xanh, như nhôm...
Cuối cùng đỉnh điểm là trở thành kiếu binh: bên này cũng xin kiếu anh, bên kia cũng từ chối thì anh phải sống làm sao.
Vậy mới nói:
Mới đi thảm trải hoa hồng
Đến khi bốc thúi chẳng ai nhận nhìn

Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2018

Bẫy thu nhập trung bình và các loại bẫy khác

Bẫy thu nhập trung bình như tên gọi của nó chỉ việc 1 quốc gia loay hoay trong khoảng thu nhập người từ 1k-12k usd/năm. 
Điều này giống như 1 cá nhân trung lưu chòi đạp mãi cũng ở mức trung lưu chớ không leo lên nổi thành người giàu.
Nói vậy để biết làm giàu là khó.
Thực ra trước khi lo lắng bị chui vô bẫy thu nhập trung bình thì VN đã từng chui vô và may mắn thoát ra khỏi bẫy đói nghèo bao cấp kế hoạch hóa.
Ngày nay nhìn các bạn Triều tiên, Cuba, Venexuela giãy giụa trong bẫy đó mới thấy ta may mắn biết chừng nào.
Để bị mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình thì thường thường sẽ bị vướng vô các bẫy sau:

1. Bẫy Hà lan:
Vướng bẫy này do cậy mình nhiều tài nguyên thiên nhiên, cứ xúc bán ăn dần mà quên việc làm chủ công nghệ mới để cạnh tranh với thiên hạ.
Đại diện tiêu biểu: nước Nga

2. Bẫy học thêm:
Rất nhiều người cho rằng, 1 quốc gia học tập là đầu tư cho tương lai, là điều tốt chớ sao lại điều xấu.
Học là điều tốt nhưng học cái gì, học hỗ trợ phát triển hay học lấn làm, học thâm lạm nguồn tài nguyên giành cho việc phát triển.
Học thêm không chỉ học sinh, sinh viên mà còn toàn thể lực lượng lao động, công chức viên chức tới mức mụ mị. Học thêm là chính, học chính khóa hình thức đối với học sinh sinh viên. Học lấn làm như đội ngũ công chức viên chức chính là việc chui vô bẫy học thêm.
Người xưa nói học đi đôi với hạnh ( hạnh đây là đức hạnh) mà không nói như ta nói bây giờ là học đi đôi với hành vì đối với các cụ, tri hành hợp nhất, nói được làm được chớ không có chuyện học rồi còn phải hướng tới mục tiêu hành chứng tỏ học còn lý thuyết suông nhiều nên mới phải hướng tới hành.

3. Bẫy siêu đô thị:
Các đô thị cả chục triệu dân xuất hiện thu hút hết các nguồn lực, về ngắn hạn tạo sự thịnh vượng nhưng về dài hạn việc giải quyết nạn kẹt xe, ô nhiễm, chất lượng sống sẽ là vấn nạn nan giải mà các nguồn lực bỏ ra lớn khủng so với lợi ích (giống như việc xây nhà máy thủy điện nơi nơi vậy)

4. Bẫy BOT
Khi nhóm lợi ích thò tay vô thì hậu quả tới tức thì. Thay vì làm đường mới song song thì sửa sơ sịa đường cũ rồi thu phí. Lợi cho 1 nhóm người mà chi phí hàng hóa chung lại tăng cao

5. Bẫy Thucydides
Bẫy này chỉ 1 ngôi sao đang lên sẽ cạnh tranh với ngôi sao hiện hữu, xử lý không thỏa đáng sẽ dẫn tới chiến tranh, va chạm nặng nề ở mức độ quốc gia.
Ví dụ dễ hiểu khi con ta lớn lên thì nó sẽ đòi quyền nhiều hơn, đương nhiên quyền lực của ta đối với nó sẽ giảm xuống. Các bạn sẽ thấy việc va chạm giữa cha mẹ và con cái trong nhiều trường hợp là nặng nề, triền miên.
Cấp độ đô thị quan sát là Hà nội và Sài gòn. SG phát triển nhưng luôn phải nộp về trung ương phần nhiều. Nhiều quá thì giải quyết vấn đề siêu đô thị làm sao mà ít quá thì SG vốn dĩ đã mạnh so với HN nay lại quá mạnh thì sao?
Đó là nan đề.

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Sự va chạm giữa các nền kinh tế


Các nền kinh tế xuất hiện, cạnh tranh với nhau, chồng lấn, hợp tác và hủy diệt nhau giống như đời sống xã hội.
1. Di cư vs. tại chỗ
Thoạt tiên phụ nữ ở nhà hái lượm thượng phong so với đàn ông đi săn bắn. Cánh đàn ông khi xa đàn bà thường trở nên thông minh hơn, họ chế ra vũ khí từ đồ đá, đồ đồng và xoay ngược tình thế, cột chặt phụ nữ vô mái nhà.
TK16, 17 phái trọng thương xuất hiện đi vòng vòng cứ nhè chỗ nào dân lạc hậu ru rú ở nhà không chịu dong buồm đi buôn bán là xông vào cướp phá, chiếm luôn nếu thuận lợi.
Ngày nay cũng vậy, dân di cư sang chảnh thì được gọi là tầng lớp lao động quốc tế, bậc thấp là xuất khẩu lao động có ưu thế hơn so với những người ở nhà. 
Như Phi, mới ngày nào VN cười dân họ chỉ biết đi làm giúp việc nhà nay theo họ XKLĐ mà còn kén hẳn so với họ.

2. Nền kinh tế thực và ảo:
1 trong những lý do CNTB trở nên hùng mạnh là ngoài cắm đầu cắm cổ CNH thì họ khai sinh ra lý thuyết trọng tiền. Với tiền họ quay vòng, đòn bẩy...Từ 1 lên được 4. Trong khi đó bên XHCN mới tới tầm điện khí hóa nên thiếu mất 1 giò.
Lò cò thì thua 2 chân chắc luôn.

3. Kinh tế nông thôn vs. Đô thị
Xưa Mao CT nổi tiếng với lấy nông thôn bao vây thành thị nên đã chiến thắng. Nhưng đó là chiến thắng ngược: nông thôn hóa thành thị.
Còn bây giờ các bạn thấy nông thôn thu hẹp lại nhường chỗ cho khu CN, đô thị hóa. Ngược lại người nông thôn lại tiến vào tràn ngập trong đô thị

4. Công nghiệp vs. dịch vụ:
tương tự thì dịch vụ ngày càng lấn lướt. 

5. Chính phủ và tư nhân
Chia làm 2 phe quyết liệt:
Ông thì bảo CP phải to, bà thì nói CP phải thật nhỏ, rất giằng dai.
Nhưng hiển nhiên là nếu CP to quá thì kinh tế tư nhân teo tóp. Còn tư nhân to quá thì CP lại sợ. Mà tao có quyền mắc chi nhũn?

6. Kinh tế chính thức vs. phi chính thức
Phi chính thức có nhiều như thị trường xám, chợ đen, vỉa hè...
Mỗi nền kinh tế là 1 lãnh địa riêng, có luật lệ, nhân sự, lực lượng tham gia, các bên hưởng lợi riêng và đều hùng mạnh.
Vd như kinh tế vỉa hè: hùng mạnh thế thì 1 PCT quận tý ti thất bại là chuyện thường, giống Don Kihote đánh nhau với cối xay gió.

7. Kinh tế Analog vs. kinh tế số
Kinh tế số đã trở nên hùng mạnh, chỉ báo là các đồng tiền số như bitcoin..., các chính phủ dĩ nhiên sợ, nhưng chẳng thể cản nổi vì đồng tiền đó đại diện cho nên kinh số.
Một bình minh mới bắt đầu 

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

IR, PR vậy R nào là royalty


Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

Lịch sử của hoạt động IR(quan hệ nhà đầu tư)


Ngày nay, quan hệ nhà đầu tư là hoạt động không thể thiếu của các công ty đại chúng trên thế giới. Nếu thực hiện tốt, quan hệ nhà đầu tư sẽ giúp gia tăng khả năng các nhà đầu tư sẵn sàng tham gia đầu tư vào công ty với 89% các nhà đầu tư định chế sẵn sàng trả một mức giá cao hơn đối với những công ty có hoạt động IR tốt. 
Thật vậy, những công ty có mong muốn huy động vốn và thúc đẩy tính thanh khoản cho cổ phiếu sẽ có một chương trình IR cụ thể và 1 bộ phận phụ trách hoạt động IR có quy mô và mục tiêu linh hoạt dựa trên quy mô của công ty hơn là sự phán đoán dựa trên giá trị của hoạt động IR.

Tuy nhiên, lưu ý là trong khi khái niệm của những công ty đại chúng đang tìm kiếm đầu tư thông qua sở giao dịch chứng khoán có từ thế kỷ 17 (Ví dụ: Sở Giao dịch Chứng khoán London đã thành lập tại “Jonathan’s Coffee House” trong năm 1698 để tài trợ cho những chuyến đi thám hiểm ), chức năng của công ty là tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn – hoạt động quan hệ nhà đầu tư – là tương đối giống với hiện tại. 
Mặc dù, những nhà phát hành luôn gặp nhà đầu tư để huy động vốn, nhưng bộ phận IR chỉ được xem là 1 bộ phận trong công ty từ những năm 1950 khi hồ sơ về cổ phiếu của các công ty bắt đầu được công bố rộng rãi và dựa trên ý tưởng là việc chia sẻ thông tin một cách hiệu quả với những nguồn vốn đầu tư có thể tạo dựng được niềm tin.

Chức năng đầu tiên của hoạt động quan hệ nhà đầu tư

Với rất nhiều công ty được thành lập trong nhiều năm, hoạt động quan hệ nhà đầu tư đã phát triển mạnh tại Mỹ. Nước Mỹ đã vươn lên mạnh mẽ kể từ sau Thế chiến II, so với các đối thủ lớn là Anh, Đức và Nhật, Mỹ đã trở thành siêu cường trên thế giới. 
Quan trọng hơn, nguồn vốn từ nhiều nơi đã chảy vào Mỹ sau Thế chiến II và được nắm giữ phần lớn bởi nhà đầu tư cá nhân. Trong khi những nhà đầu tư vào cổ phiếu đã trải qua thời kỳ Đại Suy Thoái tồi tệ sau khi Phố Wall sụp đổ năm 1929, những năm sau Thế chiến II đã thúc đẩy nhà đầu tư quay trở lại với cổ phiếu sau khi nhận thấy việc đầu tư vào trái phiếu chiến tranh của Mỹ (Series E U.S. Saving Bonds (war bonds)) chỉ mang lại lợi suất thấp. 
Mặc dù vậy, Mỹ cũng đã huy động được 185.7 tỷ USD để tài trợ cho cuộc chiến từ việc phát hành trái phiếu trên. 
Tuy nhiên, trước khi nhà đầu tư có được sự giàu có và những nhà quản lý quỹ được thuê để thay mặt nhà đầu tư quản lý tài sản của họ, sự phổ biến trong việc sở hữu cổ phiếu thời bấy giờ đã dẫn đến những công ty hàng đầu nước Mỹ có thể huy động vốn một cách nhanh chóng. 
Một trong số những công ty đó là General Electric, một trong những công ty hàng đầu thế giới lúc đó và cả hiện tại. 
Trong năm 1953, Chủ tịch GE (kiêm CEO), Ralph Cordiner, đã đánh giá những sự phát triển mới và bắt buộc đối với những công ty niêm yết để cạnh tranh đầu tư, vì vậy ông đã nhận ra nhu cầu cần phát triển một chức năng mới để quản lý việc tương tác giữa GE và cổ đông. 
Lúc đầu, là để phân biệt với hoạt động PR về cơ bản được xem như hoạt động tiếp thị với những hạn chế trong kiến thức chuyên môn về tài chính. Nếu giao nhiệm vụ tương tác với cổ đông cho bộ phận tài chính có thể xuất hiện những rủi ro về truyền đạt thông tin xuất phát từ việc ủy thác cho những cá nhân hoặc một nhóm để thực hiện những hoạt động trao đổi thông tin liên quan đến hoạt động của công ty do bộ phận tài chính có thể thiếu kỹ năng giao tiếp. 
Nhiệm vụ của việc tương tác với cổ đông của GE là tìm hiểu xem cổ đông của công ty là những ai, yêu cầu của họ là gì và làm thế nào để tương tác một cách tốt nhất với họ. Như vậy, ý tưởng về bộ phận quan hệ nhà đầu tư đã trở thành hiện thực từ đó.

Hoạt động quan hệ nhà đầu tư và sự phát triển của tài chính
Sự bùng nổ của hoạt động đầu tư sau thế chiến II tại Mỹ đã dẫn tới nhiều nhà đầu tư đã tham gia đầu tư vào cổ phiếu nhằm tìm kiếm lợi nhuận. 
Do thời bấy giờ các nhà đầu tư cá nhân chiếm đa số so với nhà đầu tư tổ chức dẫn đến hoạt động IR tại Mỹ cho nhà đầu tư tổ chức chưa được chú trọng.

Tuy nhiên, dưới sự ảnh hưởng của nhà kinh tế học Milton Friedman từ trường Đại học Chicago trong những năm 1960 và tài chính cao cấp bắt đầu có sự phát triển mạnh và các hệ thống máy tính có sự kết nối phức tạp tương tự như ngày nay thì hoạt động đầu tư và quan hệ nhà đầu tư đã bắt đầu thay đổi. 
Nhà đầu tư tổ chức bắt đầu phổ biến hơn và hoạt động tích cực hơn nhà đầu tư cá nhân, được trang bị với sức mạnh được kết hợp của những người được bảo hiểm của nhà đầu tư tổ chức đằng sau họ. 
Nguồn cầu từ những nhà đầu tư tổ chức ngày càng nhiều, nhân tố tài chính (hơn là tương tác) của hoạt động IR được xem trọng thông qua việc đẩy mạnh công bố các thông tin tài chính, gặp gỡ các nhà phân tích chứng khoán có quan điểm MUA/BÁN cổ phiếu, việc đáp ứng các yêu cầu của các nhà làm luật và công bố chiến lược của công ty ra công chúng. 
Tuy nhiên, xuất hiện quan niệm sai lệch phổ biến về hoạt động IR, chủ yếu liên quan tới việc gia tăng giá cổ phiếu của công ty, đã phát triển trong suốt những năm 1960 tại Mỹ, với việc những CFO và CEO tìm kiếm và duy trì một lợi suất rõ ràng và hữu hình dựa trên một cost centre (Cost centre là những bộ phận không trực tiêp mang lại lợi nhuận nhưng công ty vẫn chịu chi phí để duy trì và phát triển những bộ phận này, ví dụ: bộ phận nhân sự (human resource), nghiên cứu và phát triển (R&D)…). 
 Tuy nhiên, một kết quả trọng yếu mang tính tích cực của việc nhấn mạnh tầm quan trọng của tài chính là hoạt động quan hệ nhà đầu tư giúp gia tăng những thông tin phản hồi từ thị trường như là sự tương tác 2 chiều giữa công ty và nhà đầu tư. Trước khi công ty nhận được những ý kiến góp ý ít ỏi từ nhà đầu tư cá nhân, thì những nhà quản lý quỹ có thể đưa ra những phản hồi mang tính thận trọng để công ty có thể lắng nghe một cách thấu đáo.

Sự quốc tế hóa của hoạt động IR
Như chúng ta đã thấy, hoạt động quan hệ nhà đầu tư đi vào cuộc sống và nổi lên như một xu thế kinh tế tại Mỹ những năm sau thế chiến II. 
Đến năm 1969, IR đã phát triển đầy đủ để dẫn đến việc thành lập một tổ chức chuyên môn về IR, Viện Quan hệ nhà Đầu tư Quốc gia được thành lập năm 1969 (The National Investor Relations Institute) để giám sát hoạt động IR. 
Tuy nhiên, do sự phát triển của tài chính quốc tế và nhà đầu tư tổ chức từ những năm 1970, những công ty niêm yết trên toàn thế giới cần tìm kiếm nguồn vốn đầu tư lớn đã nỗ lực sao cho nhà đầu tư hiểu được định hướng, chiến lược và hiệu quả hoạt động của công ty. 
Những công ty có quy mô lớn tại Anh từ đầu những năm 1980, ban đầu xem hoạt động quan hệ nhà đầu tư như một phần của tài chính, thư ký hoặc có chức năng tương tác/truyền thông của công ty đã bắt đầu tách bộ phận quan hệ nhà đầu tư thành 1 bộ phận riêng biệt của công ty. 
The Investor Relations Society được thành lập năm 1980 để đưa ra những tư vấn và những diễn đàn thảo luận về IR trong các ngành công nghiệp tại Anh. 
Sau khi ngành công nghiệp dịch vụ tài chính được tự do hóa trong năm 1986, một lượng vốn lớn của nhà đầu tư tổ chức trên thế giới được rót vào những cổ phiếu tại Anh đã dẫn đến một yêu cầu cấp thiết là công ty cần phải xây dựng các hoạt động quan hệ nhà đầu tư. 
Suy nghĩ cấp tiến của những CEO từ Mỹ dẫn đến việc bổ nhiệm Giám đốc phụ trách IR chịu trách nhiệm tương tác với nhà đầu tư, tìm kiếm nhà đầu tư mới và báo cáo với quản lý cấp trên.

Trong suốt những năm 1980, 1990, chức năng quan hệ nhà đầu tư đã mở rộng từ những quốc gia Anglo – Saxon ra khắp thế giới. 
Hoạt động IR tại Đức được thực hiện phổ biến tại những công ty lớn có bộ phận IR với quy mô từ 10 thành viên trở lên. The Deutscher Investor Relations Verband (Hiệp hội Quan hệ nhà đầu tư Đức) giữ vai trò then chốt trong việc thành lập Global Investor Relation Network (GIRN – Hệ thống Quan hệ nhà đầu tư toàn cầu) trong năm 2008 tương tự như The Investor Relations Society, NIRI, The Canadian Investor Relations Institute và The Australian Investor Relations Association. GIRN tập trung vào việc mở rộng hoạt động quan hệ nhà đầu tư như một quy tắc kinh doanh trọng yếu với những thành viên gồm Áo, Bỉ, Brazil, Bulgaria, Đan Mạch, Ai Cập, Phần Lan, Ấn Độ, Nhật Bản, Malaysia, Các quốc gia Trung Đông, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Singapore, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraina.

Ngày nay
Tầm quan trọng của hoạt động quan hệ nhà đầu tư đã được nhận thức rõ bởi cộng đồng tài chính, chính phủ, những tổ chức liên minh lớn như EU (Những tổ chức chuyên về IR ở EU sẽ làm chứng về ảnh hưởng của những quy định của EU như MiFID về chương trình liên quan đến hoạt động quan hệ nhà đầu tư). 
Mong muốn những quốc gia đang phát triển có thể nâng cao chương trình IR là rất quan trọng và Cộng Đồng Quan hệ Nhà Đầu tư (The Investor Relations Society) đã nhận thức rất tốt điều này. Ví dụ, tại Bulgaria, Ai Cập và Brazil đã luật hóa chức năng quan hệ nhà đầu tư không chỉ ở Anh, những quốc gia Châu Âu khác mà còn ở Mỹ, nơi chức năng IR được hình thành đầu tiên hoạt động IR là bắt buộc theo quy định của luật pháp. Với sự phát triển và mở rộng nhanh chóng của hoạt động quan hệ nhà đầu tư trên thế giới, việc có sự hiện diện của một thành viên trong ban quản trị công ty phụ trách hoạt động IR, là mục tiêu để ngành công nghiệp Quan hệ nhà đầu tư đạt tới.


Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Để trở thành nhà IR bài bản

Tôi không nói giỏi ở đây. Người VN quan niệm về giỏi rất lạ, gần ngay mũi mình nên tôi chỉ đề nghị học bài bản. Với bài bản bạn sẽ bền vững hơn.
Bài trước chúng ta đã lược qua lịch sử phát triển, lợi ích và mạng lưới của hoạt động IR. 
Bây giờ câu hỏi đặt ra cho chúng ta là để gánh vác được nhiệm vụ IR giữa một thế giới đầy biến động, công nghệ số và truyền thống đan xen thì chúng ta cần được trang bị những kiến thức nào và áp dụng chúng ra sao?

I.                   Xác định khung chiến lược IR
A.   Kế hoạch chiến lược nhằm đạt giá trị tối ưu (fair valuation)
B.   Thương hiệu của công ty và quản lý hình ảnh
Theo lẽ tự nhiên chúng ta nghĩ ngay tới việc thiết lập chính sách và xây dựng kế hoạch IR. 
Một kế hoạch IR rõ ràng và hiệu quả sẽ là cần thiết cho cả nhà đầu tư, cho quản lý và lãnh đạo trong nội bộ công ty, cho công chúng và các đối tượng liên quan đảm bảo chất lượng CBTT, sự đánh giá liên tục, giá trị công ty nhằm đạt được các mối quan hệ nhà đầu tư chủ chốt và mục tiêu của công ty.
Đi cùng với xây dựng kế hoạch là thực hiện kế hoạch như thế nào. Đánh giá hiệu quả của công tác IR ra sao.
Nói tới IR không thể không lường trước những sự cố có thể xảy ra cho công ty trong quá trình hoạt động nên cần phải có kế hoạch thực hiện giải quyết sự cố, khủng hoảng. 
Ai làm việc gì? Liên hệ với cơ quan, tổ chức nào?...để các sự cố và hậu quả từ to trở thành nhỏ, từ nhỏ thành yên?
Để thực hiện được những việc trên, có phần ta làm, có phần phải thuê ngoài. Vậy chúng ta quản lý, điều hành bên thứ 3 như thế nào.
Tuy vậy, có lẽ chúng ta đi hơi vội mà quên mất vấn đề đâu tiên, nếu thiếu nó chúng ta sẽ loay hoay như không có la bàn chỉ hướng.

II.                Kế hoạch, thực hiện và đánh giá IR
A.   Thiết lập chính sách và xây dựng kế hoạch IR
B.   Thực hiện IR
C.   Đánh giá công tác IR
D.   Kế hoạch thực hiện giải quyết sự cố, khủng hoảng
E.    Quản lý, điều hành bên thứ 3 (thực hiện IR)
Chiến lược IR nhằm đạt tới giá trị tối ưu cho công ty là 1 phần của chiến lược phát triển công ty. Ở đó cần sự hiểu thấu và quyết tâm thực hiện, phân bổ nguồn lực đầy đủ của lãnh đạo công ty.
Chúng ta cũng không thể bỏ qua thương hiệu của công ty và quản lý hình ảnh trong phần xác định chiến lược IR này.
Như vậy mục này chính là mục đầu tiên chúng ta cần thiết lập.

III.             Phát triển thông điệp của công ty
A.   Xây dựng quy trình
B.   Thực hiện phát triển thông điệp hiệu quả
Nói tới IR là nói tới giao tiếp. Thông điệp đưa ra có tầm quan trọng đặc biệt. Nó giúp bên ngoài hiểu ta là ai 1 cách nhanh chóng, chính xác.
Thông điệp cần ấn tượng, ngắn gọn, dễ hiểu đi vào lòng người và truyền tải được sứ mệnh của công ty.
Phát triển thông điệp bao gồm xây dựng quy trình và thực hiện phát triển thông điệp hiệu quả.

IV.            Marketing và quan hệ
A.   Thị trường mục tiêu và thính giả
B.   Xử lý và đo lường, đánh giá
C.   Xây dựng mối quan hệ
Bán sản phẩm đương nhiên phải cần marketing. Chúng ta không thể đạt mục tiêu nếu không xác định được vốn đến từ đâu.
Sản phẩm chúng ta bán là sản phẩm đặc biệt. Nó gắn chặt với con người nên xây dựng mối quan hệ làm sao trở thành 1 tài sản đáng giá là việc cần thiết, đặc biệt ở môi trường Việt Nam, châu Á.
Có bạn nào tự hỏi vì sao Vingroup làm biết bao công trình mà sao trên truyền thông hầu như không thấy sự cố nào?

V.               BCTC và phân tích BCTC công ty
A.   BCTC
B.   Hướng dẫn
C.   Mô hình và dự báo
Chúng ta hiểu vì sao trước tiên bộ phận IR nằm ở phòng kế toán-tài chánh.
Kỹ năng đọc hiểu, phân tích BCTC và dự báo là không thể thiếu nhằm hỗ trợ, hướng dẫn nhà đầu tư, báo chí hiểu BCTC rõ ràng, chính xác cũng như tương lai của công ty.

VI.            Hiểu về kinh doanh
A.   Xu hướng ngành
B.   Phân tích đối thủ cạnh tranh
C.   Mô hình kinh doanh của công ty và định vị thị trường
Làm công ty thì phải hiểu ngành kinh doanh mà mình tham gia như hiểu bản thân mình. Xu hướng ngành đi về đâu, đối thủ cạnh tranh mạnh yếu…cũng như mô hình kinh doanh của công ty và định vị thị trường.

VII.         Tham mưu và cộng tác
A.   Tham mưu chiến lược cho quản lý điều hành và BOD
B.   Cộng tác, phối hợp với các đơn vị chức năng
Không ai có thể làm việc 1 mình và ai cũng có sếp của mình. Hàng ngày tại công ty chúng ta tham mưu và cộng tác.
-         Tham mưu chiến lược cho CEO quản lý điều hành và BOD
-         Cộng tác, phối hợp với các đơn vị chức năng

VIII.      Thị trường vốn và cấu trúc vốn
A.   Thị trường vốn
B.   Cấu trúc (cơ cấu) vốn
Rất quan trọng, nhìn ra trong cấu trúc vốn những điểm yếu mà công ty có thể trở thành đối tượng bị thâu tóm hay quá nhạy cảm với biến động thị trường
Hiểu về thị trường vốn và cấu trúc vốn
-         Thị trường vốn: xu hướng giao dịch, ai đang là chủ công ty
-         Cấu trúc vốn: hỗ trợ hoạt động phát hành, mua lại… hoàn thành mục đích của công ty

IX.            Quy định tuân thủ của công ty
A.   Quy định tuân thủ
Muốn hoạt động tốt bên ngoài thì quy định tuân thủ của công ty phải được tuân thủ tốt và trước tiên phải có quy định tuân thủ

X.               Quản trị công ty
A.   QTCT và mối quan hệ với cổ đông

IR và Quản trị công ty: 1 cặp đôi hoàn hảo và lý do chính là QTCT và mối quan hệ với cổ đông luôn gắn chặt với nhau.
I. Phẩm chất (kiến thức, kỹ năng, năng lực) của 1 IRer bao gồm:
- Nghiên cứu, lập kế hoạch, thực thi và đánh giá chương trình: 33%
- Chủ động dẫn dắt nhiệm vụ quan hệ công chúng: 18%
- Quản lý các mối quan hệ: 15%
- Áp dụng luật và đạo đức nghề nghiệp: 13%
- Quản lý thông điệp và xử lý khủng hoảng truyền thông: 13%
- Hiểu về lý thuyết, mô hình truyền thông và hành xử chuyên nghiệp: 8%

II. Phương pháp RPIE:
- Nghiên cứu (Research): cơ bản và ứng dụng
- Kỹ năng phân tích
- Suy nghĩ chiến lược
- Kế hoạch (Planning)
- Nhận dạng đối tượng
- Đa dạng hóa
- Thực thi (Implementation)
- Đánh giá (Evaluation)


7 nguyên tắc Barcelona:
- Mục tiêu và chỉ tiêu của công ty là nền tảng của hoạt động PR và truyền thông
- Chỉ tiêu đo lường truyền thông không chỉ dựa trên số lượng mà còn được đánh giá trên mức độ nhận biết, phổ biến, ý kiến hoặc hành vi
- Hiệu quả hoạt động của tổ chức cần và nên đo lường được
- Đo lường và đánh giá dựa trên cả số lượng và chất lượng
- Giá trị quảng cáo tương đương (AVEs) không phải là giá trị truyền thông. AVEs chỉ phản ánh chi phí
- Quá trình đo lường, đánh giá cần minh bạch, nhất quán và hợp lý

III. Tiến trình 4 bước
Chúng ta thủy chung với RPIE nhưng nhớ rằng ngoài ra còn có các phương pháp khác:
- RACE: Nghiên cứu và lập kế hoạch (Rerearch&planning), thực thi (Action), truyền thông (Communication), Đánh giá (Evaluation)
- ROPE: Nghiên cứu (Rerearch), Đối tượng (Objective), chương trình (Programming), đánh giá (Evaluation)

1. Bước 1: Nghiên cứu
Cần trả lời:
- Ta muốn kiếm ai?
- Ta muốn nhóm đó làm chi?
- Thông điệp nào ta muốn gửi gắm:
+ Tăng sự nhận biết
+ Thay đổi ý kiến
+ Hỗ trợ ước muốn
* Nhóm nghiên cứu cần phân biệt:
- Thị trường sơ cấp hay thứ cấp
- Chính thức hay phi chính thức
- Định tính hay định lượng
- Phương pháp nghiên cứu

* Những yếu tố cần xem xét:
- Quyết định nào sẽ được đưa ra từ kết quả nghiên cứu, thông tin nào cần có để hỗ trợ quyết định
- Nguồn thông tin có sẵn?
- Những bộ phận khác trong tổ chức có sẵn sàng làm những điều nhóm muốn làm không?
- Mẫu của nhóm?
- Độ lớn của mẫu?
- Phương pháp thu thập thông tin: survey, điện thoại, mail, online?
- Làm mất bao lâu?
- Phương pháp nào, độ tin cậy của số liệu
- Hỏi những gì?
- Kết quả sử dụng trong nội bộ hay phổ biến ra ngoài
- Phân loại câu trả lời thế nào?

2. Tiến trình 4 bước (2):
Bước 2: Lập kế hoạch (mục đích, người nghe, mục tiêu đối tượng, chiến lược, chiến thuật)
5 yếu tố này rất quan trọng các bạn nha. Nó cung cấp sườn để giải quyết mọi tình huống PR, đặc biệt hữu ích khi bạn còn thiếu kinh nghiệm.
- Mục đích: dài hạn, rộng và xa. Có thể bao gồm cả việc làm sao cho tổ chức in rõ trong tâm trí cộng đồng chủ chốt
- Người nghe (cộng đồng): nhận dạng rõ nhóm người cần thiết có quan hệ lợi ích hỗ tương
- Mục tiêu: ngắn hạn hơn mục đích. Mục tiêu được đưa ra sau khi nghiên cứu các nhóm người nghe hoàn thành. 
Mục tiêu 
(1) định nghĩa ý kiến về Cái gì, cách hay hành vi bạn muốn đạt được từ nhóm; 
(2) tính rõ bao nhiêu thay đổi hành vi, 
(3) khi nào bạn muốn đạt được sự thay đổi đó.

SMART:
+ Chi tiết (Specific)
+ Đo lường được (Measurable)
+ Có khả năng đạt được (Achievable)
+ Thực tế (Realistic)
+ Thời gian cụ thể (Time specific)

Mục tiêu được đo lường bằng 3 nguồn
- Đầu ra: vd 10 tin/tháng or 3 tweet/ngày
- Tiến trình: bạn thông báo hay tuên truyền giáo dục
- Kết quả mục tiêu: đo lường sự thay đổi trong sự nhận biết, ý kiến, hành vi và hỗ trợ

Chiến lược: cung cấp bản đồ cho mục tiêu. (Chiến lược truyền thông nhằm vào nhóm đối tượng cần thay đổi)
- Chiến lược diễn tả cách (HOW) đạt được mục tiêu
- Chiến lược bao gồm: sự liên quan...ảnh hưởng...đối tác..

Chiến thuật/Công cụ:
- Vd hội thảo, xuất bản, sự kiện, sản phẩm gắn liền, thông báo mới, thông tin online, mạng xã hội
- Số lượng hành động cụ thể. Vd 5 hội thảo, 6 sự kiện...

3. Tiến trình 4 bước (3)
Bước 3: Thực thi kế hoạch và truyền thông
- Các hoạt động của tổ chức đều góp 1 phần trong kế hoạch
- Thông điệp được truyển tải qua các kênh truyền thông
- Lịch trình, ngân sách, người
- Theo dõi kết quả của việc thực hiện nhằm bám sát mục tiêu đề ra

4. Bước 4: Đánh giá
- Đo lường hiệu quả dựa trên độ nhận biết, ý kiến, hành vi và hỗ trợ. Thay đổi hành vi thường là thước đo của hiệu quả PR. Nhưng cũng cần chú ý về dài hạn. Mức tác động cao nhất của PR là thay đổi văn hóa , tập quán xã hội
- Ai là người chủ chốt chuyển tải thông điệp
- Xác định phương pháp cải tiến, khuyến nghị trong tương lai
- Điều chỉnh kế hoạch, thông điệp, vật chất, hành động
- Thu thập số liệu và thông tin

Chiến dịch PR thất bại có thể từ:
- Người quan tâm lại tìm kiếm thông tin từ nguồn khác mà không thấy thông điệp của bạn
- Người truyền tải thông điệp chính sai lạc so với ý định của bạn
- Đối tượng thông tin không thay đổi ý kiến
- Mọi người thường tìm kiếm thông tin để khẳng định niềm tin của họ. Do đó, nhiều người sẽ né tránh, từ chối thông điệp của chiến dịch.


Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018
Kỹ năng quan hệ công chúng (2)

Phương pháp nghiên cứu
Đánh giá thuận lợi, khó khăn và ứng dụng của các phương pháp trên truyền thông chính thức, phi chính thức, sơ cấp, thứ cấp
- Quan sát nhóm
- Phỏng vấn ngẫu nhiên
- Khảo sát qua điện thoại
- Khảo sát qua thư tín
- Khảo sát online, mail
- Phân tích nội dung
- Kiểm toán truyền thông
- Phỏng vấn sâu
- Phỏng vấn qua điện thoại
- Xem xét khiếu nại
- Theo dõi cuộc gọi, mua hàng, cao điểm...
- Quan sát, thăm viếng, báo cáo ngành
- Mảng tư vấn
- Diễn đàn
- Phân tích truyền thông
- Nghiên cứu dữ liệu, đáng giá học thuật
- Tìm kiếm bằng chứng
- Thống kê
- Nghiên cứu qua internet, mạng xã hội

Phân tích nội dung
Phân tích nội dung là hoạt động lượng giá mục tiêu, tính hệ thống, số lượng của hoạt động truyền thông. Trong phân tích nội dung, chúng ta cố gắng phân tích lõi của thông điệp được truyền thông, quyết định xem kênh nào quan trọng. Thông qua đó nắm bắt được nội dung, xu hướng mà PR cần.
Phương cách sự dụng phân tích nội dung:
- Diễn tả và đánh giá nội dung thông điệp
- So sánh thông điệp nhận được qua các kênh truyền thông khác nhau vd như mạng xã hội vs. TV
- Nghiên cứu xu hướng, sự thay đổi nội dung theo thời gian
- Phân tích sự khác biệt trong nội dung truyền thông giữa khu vực và quốc tế
- Theo dõi môi trường nhằm theo dõi xu hướng ở những thông tin hàng đầu quan trọng với tổ chức của bạn

Tiến trình phân tích nội dung:
1. Chọn đối tượng phân tích (báo, tạp chí, radio, TV, tweet, FB)
2. Quyết định sử dụng mẫu hay phân tích toàn bộ
3. Phân loại vấn đề (vd bạo lực, kinh tế, thời tiết), xu hướng, mức độ (chủ động, thụ động or tĩnh), giá trị, chủ đề. Việc phân loại cần rõ ràng, phù hợp, đầy đủ và độc bản.
4. Sử dụng ít nhất 2 nhà phân tích độc lập. Kết quả cần thống nhất ít nhất 80%. Nếu thấp hơn cần phân loại chi tiết hơn, làm rõ nội dung code hơn
5. Sử dụng kết quả cần chú ý tới các cấm kỵ và các giá trị trong và ngoài tổ chức có thể nhạy cảm với kết quả.

Khảo sát
Khảo sát là phương pháp định lượng sử dụng 1 loạt câu hỏi dưới dạng phiếu, phỏng vấn or online nhằm lấy mẫu 1 nhóm dân cư. Khảo sát là phương cách hay nhằm xác định kiến thức, ý kiến của 1 nhóm xác định. Điều quan trọng là phát triển được hệ thống câu hỏi rõ ràng, đúng mục tiêu và không gây e ngại người được khảo sát.
Ks có thể qua thư, email, đt, phỏng vấn, online.

Ưu điểm:
- Kế hoạch chính xác thì Ks dễ dàng
- Người tham dự được ẩn danh
- 1 câu hỏi có thể hỏi bằng nhiều cách để phối kiểm tính nhất quán
- Hệ thống câu hỏi giúp trả lời được những vấn đề phức tạp
- Câu trả lời định lượng được và phân tích được bằng phần mềm nhanh chóng
- Có thể tung sản phẩm trước và Ks đi kèm
- Ks đa dạng: phiếu, phỏng vấn, tel, online

Nhược điểm:
- Người Ks có thể không trả lời hết câu hỏi
- Người trả lời không thuộc nhóm quan tâm
- Câu hỏi mở tốn nhiều thời gian xử lý, khó phân tích
- Người trả lời có thể trả lời theo thói quen, ngẫu nhiên mà không để ý câu hỏi
- Không trả lời
- Chi phí Ks cao
- Người Ks không chịu viết nhiều
- Không đánh giá được kiến thức nếu Ks bằng thư, online

Chọn phương thức Ks tốt nhất:
- Sử dụng phỏng vấn cho trường hợp phức tạp đòi hỏi diễn giải nhiều
- Tel. là pp cơ bản, lấy ý kiến tốt: note (dưới 10 phút, người pv chuyên)
- Thư: là pp hiệu quả nhất với câu trả lời cụ thể, giới hạn
- Online: dễ dàng, tiện, nhanh nhưng dễ bị coi là spam

Cách đặt câu hỏi:
- Câu hỏi mở
- Câu hỏi lựa chọn a b c d
- Câu hỏi có không
- Câu hỏi xếp hạng
- Đo lường ý kiến (đồng ý, không đồng ý)
- Câu hỏi kiểu cho điểm

Phương pháp lập Ks
1. Ks này giúp ta biết được gì?
2. Xem xét lý thuyết và phát triển giả thiết
3. Lựa chọn nhóm or mẫu
4. Quyết định kiểu Ks: online, thư, tel., pv...
5. Đánh giá câu hỏi không gây e ngại, e ngại
6. Viết câu hỏi
7. Khi dùng câu hỏi không gây e sợ:
- Dùng câu hỏi đóng (có, không; 1,2,3) để trả lời nhanh
- Dùng câu hỏi mở để lấy dữ liệu or ý kiến
- Sử dụng câu hỏi, trả lời rõ ràng, tránh nước đôi
- Dùng thuật ngữ dễ hiểu
8. Khi hỏi về chủ đề nhạy cảm (rượu chè, cờ bạc...):
- Tạo không khí thoải mái
- Ưu tiên câu hỏi mở
- Cho phép diễn giải
- Tránh từ kỹ thuật
- Dùng từ kể về người chung, tránh nói đến chính họ
- Hỏi về hành vi quá khứ trước khi hỏi về hiện tại
- Chú ý hành vi không bình thường
- Để câu hỏi gây e sợ vào cuối
- Người trả lời có thể nói dối
9. Khi đặt câu hỏi về kiến thức:
- Trực tiếp vào vấn đề, tránh giống như thi
- Hỏi và trả lời đơn giản
- Dùng câu hỏi mở lựa chọn
- Nếu dùng có không thì cần dùng câu khác tái kiểm
- Không dùng mail or onlien test
10. Câu hỏi về ý kiến:
- Rõ ràng
- Câu hỏi đóng
- Tách cảm giác xúc động, suy nghĩ nhận thức trong câu hỏi riêng rẽ
- Đo lường mức hồi đáp bằng câu hỏi nhiều mức độ
- Bắt đầu với câu hỏi chung và đi dần vào chi tiết
- Dùng nhóm câu hỏi cho cùng 1 vấn đề đánh giá
- Bắt đầu với câu hỏi không phổ quát
- Dùng từ trung tính
11. Viết câu hỏi dễ trả lời
12. Xem xét thứ tự câu hỏi
- Đặt câu hỏi giống nhau cạnh nhau
- Bắt đầu với câu hỏi không gây e sợ
- Đặt câu hỏi về nhân thân cuối cùng
- Thứ tự cần logic
- Không đặt câu hỏi quá dài
- Bắt đầu hỏi chung chung, sau đến chi tiết
- Không nhảy cóc
- Đặt câu hỏi ngược để tránh trả lời theo thói quen
13. Định dạng câu hỏi
14. Kiểm tra trước bằng người biết về nghiên cứu này. Chỉnh sửa
15. Thử nghiệm Ks trong nhóm nhỏ, điều chỉnh
16. Khởi sự cuộc Ks

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Người phá thế cờ vây

Nhớ cách đây vài năm, đại đệ tử của Trần Bình tể tướng - người mà ai cũng biết là ai đấy bày ra thế trận Trân Lung tưởng con ruồi bay qua không lọt.

Cờ vây là môn cờ "Trò chơi được phát minh ở Trung Hoa thời cổ đạivào hơn 2.500 năm trước, và do đó được coi là trò chơi bảng lâu đời nhất còn được tiếp tục chơi cho đến ngày hôm nay.
Nó được coi là một trong tứ nghệ - bốn loại hình nghệ thuật thiết yếu của giai cấp đẳng cấp học giả quý tộc Trung Hoa được nuôi dạy trong thời cổ đại. Tài liệu tham khảo sớm nhất về trò chơi nói chung được công nhận là biên niên sử Tả truyện (khoảng thế kỷ IV TCN).

Mặc dù các quy tắc chơi tương đối đơn giản, cờ vây rất phức tạp, thậm chí độ phức tạp cao hơn cả cờ vua, và sở hữu số lượng các khả năng cho mỗi nước đi nhiều hơn tổng số nguyên tử trong vũ trụ có thể nhìn thấy được. So với cờ vua, cờ vây có cả một bàn cờ lớn hơn với nhiều phạm vi để chơi hơn và các ván đấu kéo dài hơn, và, tính trung bình, có rất nhiều lựa chọn thay thế hơn để xem xét trong mỗi nước đi."
(https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%9D_v%C3%A2y)

Như vậy giờ đây chíên lược cờ vây đang được lãnh đạo TQ thi triển gây rất nhiều sợ hãi cho phương Tây. Nhiều học giả phương Tây thậm chí còn coi cờ vây cao hơn hẳn cờ vua.
Họ nói cờ vua tính trước 5,7 nước đi còn cờ vây là mấy chục nước. Cờ vua chăm chăm lợi nhỏ ăn quân còn cờ vây vây ép tạo thế chiến lược làm đối phương không cụ cựa được."Cờ vua không phải là một trò chơi may rủi; nó dựa thuần túy vào chiến thuậtchiến lược
Tuy thế, trò chơi này rất phức tạp đến mức thậm chí cả những người chơi hay nhất cũng không thể tính hết tất cả mọi phương án: mặc dù chỉ có 64 ô và 32 quân cờ trên bàn cờ nhưng số lượng nước đi có thể được thì còn vượt cả số lượng các nguyên tử có trong vũ trụ (xem Số Shannon).

Cờ vua là một trong những trò chơi trí tuệ phổ biến nhất thế giới; nó được nói đến không chỉ như là một trò chơi mà còn là nghệ thuật, khoa họcthể thao. Cờ vua đôi khi được nhìn nhận như là trò chơi chiến tranh trừu tượng; cũng như là "các cuộc đấu trí tuệ", và việc chơi cờ vua được coi như là một cách để rèn luyện tư duy và bản lĩnh. "
(https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%9D_vua)


Trần Bình tể tướng nổi danh với tài chia thịt giúp Lưu Bang lập quốc, hạ bệ con cháu Võ Tắc Thiên uy lừng 4 cõi thì đại đệ tử của ổng cũng phải có chân tài thực học chớ không phải loại vớ vẩn như nhiều người thấy ảnh thất thế dè bỉu. 
Kỳ thực trận Trân Lung do ảnh bày kỳ bí khôn cùng.

" ...Trân Lung tức là nạn đề của môn cờ vây. Đó là cờ thế do người ta cố ý bày chứ không phải do hai người đánh cờ mà thành, do đó hoặc sinh, hoặc kiếp nước nào cũng thật khó mà đoán được. Những thế Trân Lung tầm thường, ít thì mươi quân, nhiều có khi lên đến bốn năm chục quân, thế nhưng bàn cờ này có đến hơn hai trăm, gần như kín cả bàn cờ rồi..."
"... Trên bàn cờ trong kiếp có kiếp, lại có cộng hoạt, lại thêm trường sinh, hoặc phản phác, hoặc thu khí, tụm năm tụm ba mỗi chỗ một nhóm thật là phức tạp..."
Thế cờ Trân Lung xuất hiện trong Thiên Long bát bộ khi mà Lung Á lão nhân Tô Tinh Hà phát thiệp mời các anh hùng hào kiệt, tuổi trẻ tài cao đến phá giải. 
Tuy nhiên, mục đích chính của việc phá giải thế cờ này lại hệ trong hơn nhiều. 
Chẳng là sư phụ ông, chưởng môn phái Tiêu Dao là một cao nhân kỳ tài đương đại, không những võ công cao thâm mà cầm kỳ thi họa không gì không giỏi, chẳng may bị phản đồ Đinh Xuân Thu mưu hại đến mức tàn phế. 
Lão muốn tìm một người trẻ tuổi, anh tuấn, để truyền lại một thân công phu tuyệt thế để thay lão đi giết Đinh Xuân Thu. 
Vì vậy, thế cờ Trân Lung – một siêu phẩm do lão kỳ công 3 năm bày ra – được sử dụng để tuyển chọn cao đồ. Một là lão thân hình tàn phế, hai là phải trốn tránh Đinh Xuân Thu nên từ việc phát thiệp mời, đến việc ứng cờ tỉ thí đều do Tô Tinh Hà đảm nhiệm.(http://tuhientrang.wikia.com/wiki/Tr%C3%A2n_Lung_k%E1%BB%B3_tr%E1%BA%ADn)


Tình hình tưởng như không có đường ra.Bàn cờ Trân Lung này biến chuyển hàng trăm lối, tùy theo người mà thành, kẻ tham tài thì vì tiền bạc mà thất cơ, kẻ nóng tính thì vì sân hận mà hỏng việc. 
Đoàn Dự thất bại vì ái tâm quá nặng, không dám bỏ quân; Mộ Dung Phục thua, chỉ vì chấp trước quyền uy, tuy dám thí quân nhưng không chịu thất thế. Còn Đoàn Diên Khánh thì mối hận to lớn nhất trên đời là sau khi tàn phế, đã bỏ võ công chính tông của bản môn, chuyển sang tập luyện bàng môn tà thuật, đến lúc toàn tâm toàn ý tập trung vào đó thì ngoại ma xâm nhập, để đến tâm thần hoang mang không còn tự chế được nữa.


Bỗng nhiên xuất hiện Hư Trúc, người có biết chơi cờ vây hồi nào đâu . Vậy mà:
Sau khi các cao thủ vi kỳ như Đoàn Dự, Phạm Bách Linh, Mộ Dung Phục, Đoàn Diên Khánh thất bại, Đoàn Diên Khánh bị tẩu hỏa nhập ma, rút trượng đâm vào ngực tự vẫn, Hư Trúc muốn cứu người nên đặt bừa một quân để làm choàng tỉnh tâm thần Đoàn Diên Khánh, ngăn không cho lão tự tử nữa. Không ngờ một cái đặt bừa ấy tuy là đã giết chết mấy chục quân bên mình nhưng lại tạo ra một thế trận sáng sủa hơn, có đường tiến đường lùi, không bị gò ép như trước. Đây chính là yếu điểm của Trân Lung kỳ trận.



Như vậy cách phá thế cờ vây là mặc người lao tâm khổ tứ thêu gấm chất hoa, 1 đòn phá chốt TXT , K đầu bạc làm thay đổi thế trận.
Truyện Hư Trúc, lạ thay ứng ngay vào người, vào trận nhỉ.

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

Bài thơ 10 yêu qua các thời kỳ

Bài thơ 10 yêu rất đặc sắc, từ bản gốc nó được cải thành nhiều dị bản phản ánh trung thực nhân sinh quan của người dân qua các thời kỳ.

Để phù hợp với thời kỳ mới, hiện đại, ngắn gọn. Mỗi bài chỉ lấy 4 câu đầu

Giai đoạn 1930 - 1942: sau thời gian dài tiếp xúc với văn minh Pháp thì cách các cụ đánh giá con người từ xa xưa:

Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua

Chuyển sang thành:


Một yêu mặt trắng má tròn
Hai yêu môi mọng thoa son điểm hồng
Ba yêu mắt sáng mày cong
Bốn yêu mái tóc nực nồng nước hoa
(đời sống thời đấy trang điểm ngang bây giờ nhỉ)

Chúng ta để ý 10 yêu giai đọn này chỉ chú tâm vào vẻ đẹp của người con gái. Lối tư duy trực diện truyền thống được duy trì tiếp nối.

Bẵng đi 1 thời gian không có bài thơ nào. Tới giai đoạn 75, với nguồn hàng từ miền Nam và 1 số nước thì quan điểm về cái đẹp, cái thương cái yêu của người Việt chuyển từ người sang vật ngoại thân, vật chất:

Một yêu anh có Sen-cô (đồng hồ Seiko)
Hai yêu anh có Pơ-giô cá vàng
Ba yêu lon, téc gọn gàng (áo nilon, quần tec gan)
Bốn yêu hộ khẩu đàng hoàng Thủ đô

Chiến tranh 79, cấm vận, tình yêu cũng giảm tiêu chuẩn triệt để (gần như cho không biếu không còn gì):

Một yêu anh có may-ô
Hai yêu anh có cá khô để dành
Ba yêu rửa mặt bằng khăn
Bốn yêu bàn chải đánh răng hàng ngày

Sau 85, mở cửa xóa bao cấp, tình yêu cao giá trở lại với phong trào XKLĐ, đi tàu viễn dương, lái xe liên vận:

Một yêu ví sẵn đô la
Hai yêu biệt thự hai ba bốn lầu
Ba yêu mặt cạo nhẵn râu
Bốn yêu rượu thuốc ngâm lâu uống đều

Sau 40 năm đổi mới thì tình yêu giờ có vẻ ngang tầm thời đại, chỉ có điều nó vẫn thuần vật chất, vật ngoại thân. Cái thời yêu chính con người có lẽ vĩnh viễn xa rồi.

Tình yêu thời Tycoon:

Một yêu anh có Ba son

Hai yêu Tân cảng mang ra xây liền

Ba yêu Khánh hội, Nhà rồng

Bốn yêu Đồng khởi trung tâm Sài gòn

10 yêu thời Covid 
 1 yêu đã chích vacxin 
 2 yêu xét nghiệm mang theo sẵn sàng 
 3 yêu nhà có sân vườn 
 4 yêu thịt cá rau xanh trữ đầy 

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2018

Tuổi 50

50 tuổi, theo nhìn nhận hiện đại thì đã đi được 1/2 chặng đường. 
Còn thời xưa cụ Khổng tử bảo ngũ thập tri thiên mệnh, tức là khi ta 50 thì ta biết, hiểu, nhận ra và làm theo mệnh trời.
Mệnh trời theo quan niệm bây giờ là các quy luật vận động của xã hội. Người 50 nắm bắt được rồi nên không nghi hoặc nữa mà chấp nhận, xuôi theo hay làm theo mệnh trời.
Nói nôm na là xưa trẻ lấy thiên cân bát tứ lạng nay đã hiểu nguyên lý tá lực đả lực mà dùng tứ lạng trong tay mình để bát thiên cân hoàn cảnh 1 cách nhẹ nhàng mà mấy ông hay châm chọt gọi là tát nước theo mưa.
Hiểu vậy nhưng như các cụ xưa không bao giờ nói hết, nói toạc móng heo mà thường chỉ nói cái ý đầu, ý tại ngôn ngoại (người khôn ăn nói lửng lơ).
Dân Việt có 1 may mắn mà nhiều học giả cứ vịn vào đó để xưng xưng khoe rằng chính dân Việt khai phá ra dịch chứ không phải Chu hi, do đó xứng danh ông tổ của văn minh.
Thực ra có 1 sự trùng hợp chưa ai giải thích được là vì sao tiếng nói của người Việt lại mang 5 thanh âm thần thánh giống như nguyên lý ngũ hành, ngũ âm vậy...rất tự nhiên, lối biến của Kinh Dịch được người TH nghiền ngẫm mãi mới ra mà người Việt cứ tự nhiên thao thao nước chảy cả ngày (phát âm kiểu ngũ âm nên hát nhạc vàng sến bolero là nhất, hát kiểu khác lại khó nghe).
Giờ chúng ta lần giở xem ngoài chữ thiên thì tuổi 50 còn có:

- Thiền: 
Người ta đến với thiền vì nhiều lý do nhưng nguồn gốc bản năng của nó là sau 50 thì nhịp sinh học trao đổi chất chậm lại. 
Bản năng mách bảo phải làm cái gì đó để cân bằng cái nhịp này với nhịp điệu tự nhiên của vũ trụ. 
Vậy là thiền ra đời với mong muốn làm tâm bình hơn, khí được nạp mang hiệu suất cao hơn và trí não chuyển sang vận hành theo kiểu tổng hợp, trực giác nhiều hơn. 
Có vận hành vậy mới ngộ được thiên cơ, cơ giời chứ.
Cũng từ đây phát sinh kiểu sống chậm, nay đã trở thành phong trào nhằm cân bằng cuộc sống vì con người nhận ra sống không chỉ chiến đấu, học tập, làm theo mà còn thụ hưởng cuộc sống bao la bát ngát với tư cách cá nhân.

- Thiến: 
Cũng tuổi này nhiều người nói đùa: thôi thôi pháo đã tịt ngòi, gia tài còn lại 1 vòi nước trong. Nỗi sợ, cái sợ bị thiến đầu tiên nằm ở sinh lý. Tuy nhiên thiến không chỉ nằm ở đó. 
Con người ta còn có thể bị thiến nhiều thứ khác quan trọng không kém là bị thiến về ước mơ, hoài bão, đường công danh, sự nghiệp...
Tuổi 50 cũng còn có thể vung dao tự thiến những kỷ niệm, quá khứ mà mình xấu hổ, chối bỏ, không thấy tự hào...biệu hiện tự thiến, bị thiến nếu các bạn quan sát sẽ thấy biểu hiện rõ ở những người trí thức, văn nghệ sỹ...
Thiến thế là ngược với sám hối nhỉ.

- Thiển: 
Khi quỹ thời gian nói cho oai còn có 1/2 thì con người ta cuống lắm, đêm mất ngủ thấy ta là thác đổ, đếm ngược là chuyện thường tình. 
Nên ở tuổi này thay vì minh triết nhiểu người lại đâm ra nghĩ ngắn, lẩn quẩn theo kiểu giàu bỏ bạn, sang bỏ vợ.
Cuống quít làm giàu, cuống quít hưởng thụ theo kiểu trẻ không chơi già sanh tật gọi là sống gấp lừng danh, ngược hẳn với sống chậm.
Cái này cũng thấy rõ ở quan chức sắp về hưu thì mong con trâu bạc, bổ nhiệm tay em, con cháu...chuyến vét ào ào hay nhuần nhuyễn hơn, cao cờ hơn là tư duy nhiệm kỳ. 
Cái gì tốt khi ta đương mần thì làm, ảnh hưởng tới trước kệ, kế nhiệm đổ vỏ kệ.

- Thiễn: 
Cũng như các tuổi khác, con người cũng vẫn khoái, vẫn tập trung làm, ngắm nhìn, ngợi ca những thứ vô nghĩa, vô bổ, vô giá trị. 
Nhưng với 99% nếu không làm thế thì biết tiêu thời gian vào đâu, trút bỏ năng lượng vào đâu.
Thực ra cơ thể cũng cần những phút giây vô bổ, vô nghĩa để refresh lại mình. Không có cái vô nghĩa sẽ chẳng có cái có nghĩa.

Thiện: 
Chìm dưới thiên thiền thiến thiển là thiện. Thực ra, bạn có mấy cái kia rồi mà thiếu thiện thì không văn minh được, không thành người nổi.
Nên người xưa đặc thiện ở giữa, chân và mỹ 2 bên. Hàm ý rằng thiện là gốc, là trục của con người mà từ đó chân lý, cái đẹp sẽ tung cách đưa con người lên với tư các thiên thần. 
Nếu thiếu thiện tài năng bao nhiêu cũng chỉ trở thành quỷ dữ.
Cái đó chẳng nói suông, ví dụ sống động nhìn xa nhìn gần ta thấy đầy rẫy.