Thứ Hai, 2 tháng 9, 2019

Ý lồng trong í


12. Trai đa trá, gái đa dâm
Tương truyền khi bị quân Tây sơn rượt đánh tan tác, Nguyễn Ánh đã phải bỏ cả vợ con lại chạy thoát thân. Tháng sau quay về thì vợ chết con chết ổng mới cay đắng thốt: nam thì vô trí, nữ thì vô tâm. Lời chỉ trích nhắm vô những người không bảo vệ nổi vợ con ổng ta nghe có thể hiểu được sự khốn cùng, sự quẫn trí trong tình cảnh đó.
Cuối đời Gia Long thì triều đình chia làm 2 phe, 1 phe theo thái tử Cảnh với dự tính cải cách, thân Pháp, chấp nhận đạo Chúa và phe theo hoàng tử Đảm trọng Nho giáo, lấy TQ làm khuôn vàng thước ngọc. Thái tử Cảnh mất, Minh Mạng lên ngôi ông đã làm mấy việc lớn ngay lập tức:
- Bài trừ phe thái tử Cảnh
- Xây dựng thể chế theo khuôn mẫu TQ
Các bạn biết rằng triều Gia Long chịu ảnh hưởng nhiều từ người Pháp và xu thế cải cách còn có vẻ mạnh với đại diện là thái tử Cảnh. Với cái chết của ông thì coi như cánh cửa đóng sập lại.
Tuy nhiên để chống lại đạo Thiên chúa thì Minh Mạng khuyến khích đạo Phật. Đây là 1 điểm mới vì như thời Lý, Trần đạo Phật rất phát triển sau đến thời Lê học TQ tôn Nho bài Phật nên trong thời gian này đạo Phật suy yếu. Nay tới thời MM thì vừa tôn Nho lại vừa tôn Phật.
Với chất nho giáo như thế thì vua MM có cái nhìn khe khắt hơn hẳn vua Gia Long:
Sông không sâu, núi không cao
Trai thì đa trá, gái thì đa dâm
Huế kinh đô là trung tâm quyền lực, ai ai cũng muốn được làm quan, được có thế lực thì đương nhiên họ phải dùng mưu kế, liên minh hợp tác...là lẽ tự nhiên. Nhưng dưới con mắt khe khắt nghi kỵ của vua MM thì đám người gốc Chăm, Minh hương này không đáng tin, trí trá, đa trá...cần phải đề phòng và gốc thờ phụng linga, yoni mang tới ám ảnh về mặt sinh lý. 
Từ ngàn đời sex với ông cha ta là tự nhiên, thâm chí có phần phóng túng. Chỉ dưới con mắt sùng Nho nam nữ thụ thụ bất thân thì ổng mới thấy cần đưa con dân vô vòng lễ giáo chớ đứa nào cũng trá với dâm thế là không được.



11. Dân VN có tinh tế được không?
Nguyễn Bỉnh Khiêm có viết bài thơ tựa đề: 

Nhàn
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dù ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến cội cây đa sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao


Thu ăn măng trúc do khi đó mụt măng còn đang nằm dưới đất, non chưa trồi lên nên mềm ăn ngon. Cái này có tích tận bên Tàu nhưng các học giả VN loay hoay cãi nhau về chữ giá. Ông bảo giá đỗ, ông nói mạch nha...do luận chữ Hán xưa chữ tác chữ tộ. Cái này nói lên sự giáo điều của tầng lớp văn thân. Thấy cụ Trạng Trình thì ngỡ thơ nào của cụ cũng là sấm rồi đoán này đoán nọ.
Hỏi mệ thì mệ chỉ nói tau không thích ăn măng như thế vì nó còn nhỏ, đang lớn, ăn vậy khác chi sát sinh. Nếu xã hội không loạn lạc, giới mệ vẫn thong dong thì hẳn dân mình cũng vươn lên đạt tới sự tinh tế quý tộc như các dân văn minh khác trên thế giới nhỉ.

10. Chuông chùa Thiên mụ
Tiếng chuông Thiên mụ canh gà Thọ xương được anh Tây học tiếng Việt dịch thành:
Bà Trời đánh một tiếng chuông
Canh gà húp vội, mắc xương mấy lần

Chuông chùa Thiên mụ là 1 cặp chuông lớn tuổi 300 năm nhưng các mệ còn nói xưa phường đúc 1 chuông còn to gấp 3,4 lần. Mỗi khi đánh tiếng chuông vang xa tới tận phá Tam giang, nhà nhà đều nghe tiếng. 

Rồi 1 hôm chuông không kêu nữa do bị thầy Tàu yểm, rút cục chuông bị đôi xuống sông.Lời bình: chắc kỹ thuật đúc có vấn đề, bị nứt và đôi xuống sông mà không đem về nấu lại do sợ tà ma quấy nhiễu (cái này giải thích lý do cổ vật VN hiếm vì các cụ sợ ma). Cốt truyện có vẻ giống trâu vàng Hồ Tây.


9. Có thực mới vực được đạo?
Hầu như ai ai cũng bảo đói thì đầu gối phải bò nên có đủ ăn rồi mới bàn tới chuyện đạo lý.
Nếu các cụ ngày xưa nghĩ thô thiển thế thì làm gì có tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ nữa.
Thực ở đây là hiện thực, thực hiện, có thực. Ý là đạo muốn tồn tại, muốn hoằng dương thì nó phải có bằng chứng về sự thực hiện, có sự đóng góp hiện thực trong đời sống chớ không phải là lý luận suông vô bằng vô cớ các bạn ạ.
Chớ ai lại suy nghĩ kiểu vục đầu vô máng ăn vậy.

8. Học đi đôi với hành?
Nhà bè nước chảy chia hai
Ai về Gia định Đồng nai thì về

Có 2 quan điểm, phổ thông là học đi đôi với hành. Tức là học phải gắn liền với thực hành, hành động không lý thuyết suông. Nghe rất hợp lý và hạp với quan điểm khoa học của Tây nên ta theo cũng là 1 cách cự tuyệt lối học sáo mòn, khoa cử chi hồ giả dã ngày xưa.
Cái phiền là quá thiên về học hành nên trường nào cũng phải kẻ khẩu hiệu: tiên học lễ hậu học văn ý bảo học gì thì học cũng phải có lễ phép, lễ giáo...chớ không phải đi lễ cúng chùa hay cúng thầy cô, cúng sếp...
Quan điểm thứ 2 là học phải đi đôi với hạnh.
Họ lý giải người xưa học theo kiểu tri hành hợp nhất, tức là học là đương nhiên phải biết hành chớ học đỗ đạt xong bổ ngay làm quan huyện sao biết đường quản trị, đường xử án nên ai nói học xưa là học chay, lý thuyết suông là chả biết gì lối học ngày xưa.
Các cụ học kiêm cả y lý dịch số tức ngoài học chữ thánh hiền còn biết bốc thuốc, xem bói, coi quẻ...để giúp người cứu mình sinh sống đàng hoàng chớ làm gì có chuyện lưng dài tốn vải ăn no lại nằm.
Ngay như ông nội tôi, giáo viên tiểu học sau CCRĐ vẫn là giáo viên nhưng để nuôi cả tiểu đội con thì thiến heo, cúng liệm người chết đều làm được cả.
Cho nên học đi liền với hạnh. Hạnh đây tức là đức hạnh. Giáo dục xưa mong đào tạo con người quân tử nên có tài có đức là chuyện song hành, chỉ đáng tiếc là không thấy tài liệu nào chứng minh học đi đôi với hạnh phúc cả. Có lẽ hạnh phúc xa lạ với quan niệm đời là bể khổ chăng? 


7. Cứng đầu cứng cổ
Tôi có ông anh sắp hưu. Gặp nhau cafe là ổng khoe tao thuộc dạng cứng đầu cứng cổ. Bụng nghĩ mấy thanh niên mới lớn còn hừng hực rồi non kinh nghiệm sống mới cứng đầu cứng cổ chớ anh tôi tuổi này còn thế.
Dại quá, cứng đầu cứng cổ chỉ thiệt, bị sếp đì chớ báu chi.
Vậy mọi người ở công ty có né anh không?
Hòa đồng vui vẻ chớ mắc chi né mậy.
Hóa ra tuổi anh tôi dân văn phòng giờ đa số thoái hóa đốt sống cổ nên cái cần cổ ngay đơ, xoay trở phải từ từ, không nhanh được.
Hôm trước tao qua đường, có thằng chạy ngược chiều đột ngột làm giật mình xoay đầu vội để quan sát, hoa cả mắt, mém té mày ạ.
Nào. Các bạn 50 sắp lên, thử xoay cần cổ, hạ cằm sát ngực xem mình đã thuộc diện cứng đầu cứng cổ chưa. Nếu rồi, làm cái chi cũng chầm chậm thôi nhé
Câu Hà nội không vội được đâu là đúng vì là nơi tập trung lãnh đạo, mà họ 99% già rồi. 


6. Người Kinh người Trại
Chúng ta thường nghe giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng hay Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo.
Vậy chống nhà Minh sao lại nói là chống Ngô. Ngô có nghĩa là gì?
Về điểm này nhiều bạn trả lời được ngay:
Tin rằng tựa đề chính thức của bài văn chúng ta đang bàn là “Bình Ngô đại cáo”, O’Harrow tìm hiểu “Ngô” mang những nghĩa gì. 

Theo ông, Nguyễn Trãi đã ngầm so sánh đối kháng Minh-Việt với mối thù Ngô-Việt giữa Phù Sai và Câu Tiễn thời Xuân Thu chiến quốc. Có thể xem Lê Lợi như hậu duệ nước Việt xưa, Minh ở vị trí nước Ngô thời cổ. Như vậy, “Bình Ngô” hàm ý giải quyết thành công hận thù lưu cữu. Ngô còn là tên một nước trong tam quốc, đô tại Kiến Nghiệp (Nam Kinh nay), đương thời kiểm soát vùng đất Giao Chỉ Cửu Chân. Mặt khác, thủ phủ Tập Khánh (Nam Kinh nay) cũng chính là nơi Minh Thành tổ Chu Nguyên Chương phát khởi sự nghiệp, có lúc họ Chu mang tước “Ngô quốc công” hoặc “Ngô vương”. Như vậy, “Bình Ngô” nêu rõ địa chỉ tư gia của đối phương.
(https://nghiencuulichsu.com/2019/08/27/dai-cao-huyen-thoai-ve-vi-vua-khai-quoc-le-loi-bai-1/)

Nhưng câu chuyện chưa dừng ở đó. Trong Bình Ngô đại cáo nhiều lần Lê Lợi than thiếu nhân tài, thiếu người ủng hộ: việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần, nơi duy ác thiếu người bàn bạc...vì sao lại thiếu trong khi lúc nào chả ghế ít đít nhiều?

Trở ngược thời gian ta bắt gặp sự phân biệt người kinh người trại.

Người kinh lộ: sống ở kinh đô hoặc lộ đồng bằng ven biển có mối liên hệ, làm ăn và thấm đẫm văn hóa Hán tộc, ủng hộ phương bắc. Những người này khi quân Minh sang thì nô nức xin làm quan và né tránh Lê Lợi.

Người trại: sống ở vùng trung du như Thanh hóa, Nghệ an, gốc mường. Xa cách với Hán tộc và có khuynh hướng chống lại phương bắc giống như Lê Lợi.

(https://www.facebook.com/nclspage/posts/1566262063437723 )

K. W. Taylor ghi lại nhận xét lạnh lùng trong tác phẩm “A History of the Vietnamese”, Một quyển sử về người Việt Nam, như sau:

Cư dân đồng bằng sông Hồng có xu hướng ủng hộ chính quyền nhà Minh. Người vùng thấp ở các phủ Thanh Hóa, Nghệ An phía nam nói chung cũng hưởng ứng chính quyền này. 
Tuy nhiên, đặc tính dân cư vùng chân núi và cao nguyên các phủ miền nam là đề kháng sự cai trị bởi Minh triều. Nói cách khác, theo sự phân biệt đầu tiên được tường trình dưới thời Trần, nhiều người Kinh cảm thấy có giá trị khi họ là một phần của vương quốc phương bắc, riêng người Trại thì không. 
Vì thế, vào thập niên 1420, sau khi Chu Đệ băng hà, hoạt động kháng Minh tích cực trong nhóm người Trại tại các phủ phía nam phát triển nhanh chóng nhất, đặc biệt nơi các thung lũng thấp thuộc vùng ven núi nam sông Hồng và vùng phía tây bình nguyên duyên hải. 
Thời Trần, thuật ngữ Kinh – Trại biểu trưng hai xu hướng khác nhau trong lĩnh vực thực hành văn hóa và ngôn ngữ, điểm khác nhau mà thời hiện đại cảm nhận như sự khác biệt giữa người Việt và các nhóm người mệnh danh Mường.

Như vậy Ngô đây không chỉ là nhà Minh mà còn chỉ những người địa phương theo đi theo nữa. Như vậy người kinh lộ có sẵn phẩm chất làm quan thì họ chưa theo Lê Lợi còn người trại ngoài sự trung thành vũ dũng thì lại chưa biết làm quan. 
Khẩu khí của Bình Ngô đại cáo báo hiệu sự đối xử khe khắt với những người theo ngoại bang sau này. Cùng với thời gian, sự khắc nghiệt ngày càng tăng và được chuyển sang gọi là ngụy.
Cho nên chúng ta không lấy làm ngạc nhiên việc luôn luôn có người, có phe luôn khắc nghiệt, không buông tha ngụy. 

5. Nguồn gốc màu tím Huế

Chúng ta thường nghe lầu son, gác tía rồi tử cấm thành, sao tử vi...thì tía ở đây là chỉ màu tím, tử cũng chỉ màu tím. Như vậy màu tím chỉ vương quyền. Đến Nadal năm nay tại USopen cả team cũng chơi màu tím Huế.

Ở phương Tậy, màu tím tượng trưng cho quyền lực và tôn quý, tương tự Trung Quốc. 
Trong xã hội cổ đại Trung Quốc, hệ thống màu sắc được phân chia rõ ràng, có năm loại màu chính tương ứng với kim mộc thủy hỏa thổ theo thứ tự là trắng, xanh, đen, đỏ và vàng. Các màu khác là do các màu chính phối hợp tạo thành.
Vật gì hiếm thì quý, tuy nói là màu phối hợp nhưng cũng không khó hiểu tại sao sau này màu tím được ưa chuộng. 
Nhà Đường, quan tam phẩm trở lên mặc quan phục màu tím, Hàn Phi Tử – Ngoại trữ thuyết tả thượng ghi lại: năm bộ quần áo màu trắng không có giá trị bằng một bộ quần áo màu tím. 
Đối với người phương Tây, quần áo màu tím có giá trị rất cao, họ dùng một loại vỏ sò để nhuộm quần áo. 
Hầu hết khu vực Đông Á dùng thực vật để nhuộm quần áo màu tím, nhưng sau đó dễ bị phai màu, muốn màu sắc bền lâu thì cần phải rất công phu, cho nên quần áo màu tím rất đắt. 
Ở Quảng Nam, Hội an, Huế...những vùng đất căn bản của người Chăm xưa thì nhuộm chàm phát triển rất mạnh. Chúng ta đừng quên người Chăm còn gọi là người Chàm.
Người Nhật từng học bí quyết nhuộm vải tại Hội an. 
Vải nhuộm chàm dệt sọc Matsusaka Momen (Matsusaka Cotton – 松阪もめん) là loại vải cotton dệt sọc có danh tiếng lâu đời tại thành phố Matsusaka, thuộc tỉnh Mie ở Đông Nam Nhật Bản. Các kỹ thuật dệt và motif sọc của Matsusaka Momen đã được công nhận là những di sản văn hóa dân gian phi vật thể của Nhật Bản. 


Các loại vải kẻ sọc khác có xuất xứ từ Ấn Độ, Indonesia, Malaysia,…rất được người Nhật thời bấy giờ ưa chuộng, dùng cho những chiếc khăn, thảm, túi nhỏ đựng trà cụ trong các buổi Lễ Trà. Tuy nhiên, loại vải dệt sọc có nguồn gốc từ vương quốc Chămpa (thuộc vùng địa lý Hội An ngày nay) vẫn được yêu thích hơn cả, hình thành một cầu nối thương mại và lịch sử đặc biệt giữa Hội An và Matsusaka. Đây chính là thời kỳ mậu dịch Chu Ấn thuyền (Shuin-sen) phát triển đỉnh cao, hình thành mạng lưới hải thương hưng thịnh giữa Chămpa và Nhật Bản.
Người Chăm ở khu vực Hội An đã bị mất dần quyền lực chính trị bởi Đại Việt, nhưng vẫn tồn tại cho đến thế kỷ XVII dựa vào thương mại hàng hải với Nhật Bản. Theo các nghiên cứu khảo cổ học, sự có mặt của cộng đồng thương buôn người Nhật ở Hội An có thể bắt đầu vào cuối thế kỷ XVI cho đến cuối thế kỷ XVII, hoặc cho đến khi sự phân tán của người Chăm ở Việt Nam.
Loại vải dệt sọc dọc của người dân Chămpa tại xứ Kochi rất được các thương nhân Nhật Bản yêu thích. Dần dần, kỹ thuật dệt sọc dọc và phương pháp phối màu sợi nhuộm tạo hình hoa văn, đã được các nghệ nhân Matsusaka tiếp thu và áp dụng với kỹ thuật nhuộm chàm bản địa, phát triển thành thành những mẫu vải nhuộm chàm dệt sọc Matsusaka Momen danh tiếng
(Màu xanh Nhật Bản – Kỹ thuật dệt vải sọc, từ Hội An đến Matsusaka Published on August 8, 2017)


Thời chúa Nguyễn các võ quan khi ra trận phải để lại vợ trẻ con thơ ở nhà. Để các võ quan yên tâm ra trận, Nguyễn Thái tổ quy định: 
Phu nhân trao khăn mầu tím cho võ quan khi ra trận để yên lòng các võ quan nơi biên ải và mầu tím được coi như là mầu biểu thị lòng chung thủy của người vợ đối với chồng. 

Nhà Nguyễn Bộ Lễ qui định, các cô gái xứ Huế dòng hòang tộc phải mặc áo dài nhung hay gấm màu tím, thường dân không đươc dùng. 
Theo thời gian nó trở thành đại chúng và ai cũng thấy cô gái Huế áo tím, nón bài thơ với cặp mắt buồn là đẹp và quí phái nên nó trở thành màu ưa thích rồi thành biểu tượng cho xứ Huế, màu tím Huế.
Thoạt tiên do kỹ thuật thủ công mà màu tím Huế mang sắc chàm nhiều như vầy:



sau công nghiệp nhuộm tân tiến lên, vải lụa mịn mỏng hơn dẫn đến màu tím trở nên tươi sáng hơn và chuyển thành màu tím Huế như ta thấy ngày nay.
...............
(Cây hoa mộc: Các cụ đã có câu “Sắc Trà hương Mộc” để nói lên vẻ đẹp tuyệt vời của cây hoa Trà và hương thơm vượt thời gian của cây hoa Mộc, làm say đắm lòng người. 
Cây mộc còn có nhiều tên gọi khác nhau như quế hoa, mộc tê, mộc hương thuộc cây thân gỗ, dạng bụi, sống lâu năm có chiều cao khoảng 2-12m. Mộc hương có tên khoa học là Osmanthus fragrans, thuộc họ Tường vi, nguồn gốc từ Châu Á. Hoa mộc thơm đậm đà, nồng nàn quyến rũ vị trái cây, nở rải rác quanh năm nhưng nhiều nhất vào mùa thu).

4. Kiêng cữ
Dân ta rất mê tín nên hay kiêng cữ. Dạo còn học ĐH, hôm nào đi thi là bọn tôi luôn nhớ ra cửa phải bước chân phải trước và rình lúc không có phụ nữ trước nhà mới đi ra. Có ông còn cẩn thận tối đi ngủ cột tay thuận vô giường cho khỏi quờ quạng lung tung.
Dân Nam ngày tết thì kiêng cúng chuối vì sợ chúi nhủi, không bày trái cam vì sợ quít làm cam chịu...(ngược với ngoài Bắc nhỉ).
Tuy nhiên kiêng cữ thì dân Huế mới số 1. Họ làm theo tôn ti trật tự kiểu vua chơi lan, quan chơi trà có đẳng cấp rõ ràng, nhưng giờ thời hiện đại, triều đình không còn nên dân lại khoái mặc màu vàng cho nó mang hơi hướm hoàng tộc dù vẫn ngại chơi lan vì nó ra màu tím, màu trắng có mùi tang tốt nhất kiêng trong dịp Tết.
Cây mai cây mộc thì phải trồng từ 2 cây trở lên, kiêng trồng nhõn 1 cây.
Cây mai tươi tốt nở hoa đều, mỗi năm đúng dịp tết thì năm đó hên, vượng còn không thì không hên, suy bại nên họ ít dám trồng, mà đã trồng thì phải chăm rất kỹ. 

Nếu bỗng dưng nó suy yếu, còi cọc, kém ra hoa Thì gọi là suy, gia đình đi xuống, làm ăn khó khăn, lục đục.
Trồng 1 cây mai thì kiêng do có ý là bị mai một, 1 cây mộc thì là độc mộc. Độc mộc là cô đơn lẻ bóng. 
Bịnh sợ cô đơn vua Minh Mệnh phát giác ra và có câu thơ nổi tiếng về chuyện này để dịp nào sẽ bình sau.



3. Nắng qua mắt buồn
Trịnh Công Sơn nói mắt con gái Huế buồn, vì sao lại buồn?
Xưa người Chăm rất mạnh về hàng hải. Đàn ông đi biển đánh cá, buôn bán và đánh trận. Nhà Trần oai hùng 3 lần thắng quân Nguyên thấy thuyền quân Chăm là bỏ cả kinh thành mà chạy. Sau may nhờ có đứa phản chỉ thuyền Chế Bồng Nga nên Trần Khát Chân mới tập trung máy bắn đá bắn vô nên nhà Trần mới từ cõi chết trở về chói lọi.
Đàn ông đi biển thì đàn bà ngoài việc nhà chỉ còn biết ngóng đàn ông trở về. Thời đó đi biển cực kỳ nguy hiểm, sống chết nỏ biết. Dân Việt sợ đến nỗi từ chối đi biển xa mà chỉ tập trung lấn đất làm nông.
Biển bị dấu kín tới mức khi Nguyễn Huệ đánh quân Thanh di chuyển bằng thuyền thì thời sau dấu biến, phịa ra chuyện 2 người võng 1 người chạy như bay cả ngàn km.
Ngóng mãi nên mắt buồn, trời mưa bão thì sợ lắm nên mong nắng lên.
Sau người Việt tràn vô định cư, sống cùng nữ người Chăm. Đời này qua đời khác mắt vẫn buồn vì ngóng chồng, cha, người yêu rồi nỗi buồn mất nước sống với người xa lạ nên lại càng buồn.




2. Vì sao mái hiên chùa đình đền xưa rất thấp?
Khi tham quan chùa đình đền xưa, thậm chí hoàng cung Huế mọi người sẽ có cảm giác mái hiên quá thấp, có vẻ thấp hơn chiều cao người mà khi bước vô mình sẽ phải hơi khom lưng chút mới khỏi đụng.
Thoạt tiên tôi nghĩ do ngày xưa do vật liệu kém, trình độ của thợ xây kém nên mới làm thấp lè tè như thế để chống bão.
Hóa ra làm vậy vì các cụ theo Khổng giáo.
Buộc anh phải cúi người thấp xuống khi vào chôn linh thiêng trang trọng. 
Biết hạ mình xuống để thấy đời cao rộng.
Nhưng vào trong rất ấm cúng, một không gian khác mở ra vì độ dốc mái cao tôn vẻ trang nghiêm của chùa đình đền.
Vậy là quá trình bước vô học cả khiêm cung lễ hỉ.
Đình, chùa làng VN xưa thường xây ở nơi cao nhất. Nên nơi đó không chỉ là nơi hội hợp, cúng bái mà còn là nơi trú, cất trữ khi bão lũ. Tình hình bão lũ kiểu này chỉ có ngày càng dữ. Mỗi thôn làng học người xưa xây giống nhà giàn DK1 ở Trường sa thì sẽ an toàn hơn



Tôi sẽ lần lượt đăng những mẩu chuyện liên quan tới ý lồng trong í, nghĩa là 1 sự việc thoạt nhìn thì là a nhưng tìm hiểu kỹ thì có nguồn gốc từ b hoặc lại có ý c ở trỏng. 
Chuyện có thể viết bởi tôi, có chuyện bạn bè kể, có chuyện lượm lặt trên mạng, sách báo...

1. Lên kế hoạch làm việc
Dạo đó tôi có kế hoạch làm việc ở Hà nội nên nói với cậu cùng phòng thu xếp chuẩn bị. Nó cẩn thận hỏi lại anh muốn đi khi nào. Tôi bảo tùy em, mình đi 1 tuần.
Mấy thôm sau thanh niên báo ngày đi.
Tôi ngạc nhiên lắm vì nó định ngày vướng Noel, nghĩa là sẽ hưởng lạnh Noel Hà nội. Nghĩ bụng, đúng là thanh niên chưa vợ, không có bạn gái nên trốn ra HN đây.
Mãi sau này nên vợ nên chồng rồi vợ nó mới khen anh chiều anh ấy thật, cho ảnh ra HN chơi Noel với em. 

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Mạng lưới kinh doanh của người Hoa


Ở Trung Quốc, người ta nói, đảng nắm giữ quyền lực độc đoán đối với luật pháp và thậm chí là Hiến pháp vì sự cai trị độc đảng của họ là tối cao. Tư pháp không độc lập và do đó, không thể vô tư. Dưới sự giám sát của đảng, tư pháp không thể áp dụng luật như nhau cho tất cả mọi người mà không có sự can thiệp chính trị, chứ đừng nói đến việc kiểm tra thẩm quyền chính trị của đảng. 
Theo một hệ thống như vậy, bất kỳ quyền cá nhân nào được quy định trong Hiến pháp là vô nghĩa. Các doanh nghiệp và cá nhân không thể hoạt động với khả năng dự đoán, thậm chí không có bảo mật cơ bản về tài sản và quyền tự do.
Theo mọi tiêu chí trừu tượng, Trung Quốc dường như thể hiện sự đối nghịch với tinh thần của nhà nước pháp quyền và đại diện cho một trường hợp tiêu chuẩn của sự cai trị của con người (mặc dù dưới hình thức cai trị của đảng). 
Như vậy, một số người đã dán nhãn cho những nỗ lực của Trung Quốc để phát triển nhà nước pháp quyền theo quy định của pháp luật. Theo cách giải thích của họ, chỉ đơn giản là sử dụng luật như một phương tiện để thực thi hiệu quả sự cai trị của đảng và do đó, trái với lý tưởng của luật pháp.
Nhưng đây là một câu chuyện được xây dựng trên cơ sở kém chất lượng, có ít cơ sở trong thực tế hoặc thậm chí trên lý thuyết. chúng ta cần đi ngược về tìm hiểu văn minh Nho giáo.

Khổng Tử và Pháp luật
Cuộc tranh luận chính trị lớn, thực sự là cuộc đấu tranh đã định nghĩa nền văn minh Trung Quốc, bắt đầu từ hơn hai ngàn năm trước. Đó là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa pháp lý và Nho giáo ( phái Hàn phi và Nho gia). 
Trong thời Chiến Quốc (475 Công ty trước Công nguyên), khi Trung Quốc bị chia cắt thành các vương quốc riêng biệt chiến đấu không ngừng để thống trị, Tần cuối cùng đã vượt qua tất cả những người khác về sức mạnh kinh tế và quân sự và thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước Công nguyên. 
Nó đã làm như vậy thông qua việc thực hiện các qui định pháp lý được áp dụng nghiêm ngặt. Lý Tư, người đã thiết lập chủ nghĩa pháp lý này, được biết đến trong biên niên sử của lịch sử với tư cách là nhà lãnh đạo chính trị, người đã đặt Tần trên con đường đi đến đế chế.
Chủ nghĩa pháp lý đã diễn ra, nhưng đó là một cuộc tuần hành ngắn. T
hủ tục cai trị  tàn nhẫn đã dẫn đến các cuộc nổi loạn và triều đại Tần sụp đổ chỉ sau mười bốn năm.  
Triều đại nhà Hán đã tiếp quản và các cuộc tranh luận tiếp theo trong triết học chính trị kéo dài gần một thế kỷ. Nhiều trường phái tư tưởng xuất hiện, thậm chí phát triển mạnh mẽ. Nhưng sự cạnh tranh trung tâm là giữa chủ nghĩa pháp lý và Nho giáo.

Pháp lý về cơ bản là việc áp dụng nghiêm ngặt các quy tắc chung đã được đặt ra trước. Tất cả đều được đối xử bình đẳng theo các điều khoản của quy tắc, không có ngoại lệ; công lý tố tụng thổi phồng sự công bằng thực chất. 
Nhà lý luận pháp lý Fuller đã gợi ý, khái niệm này của nhà nước pháp quyền là “thờ ơ đối với các mục tiêu nội dung của pháp luật và đã sẵn sàng để phục vụ nhiều mục đích như vậy có hiệu quả như nhau.” 
Các nhà tư tưởng hiện đại của phương Tây như Montesquieu, Raz , Fuller và Hayek đều có thể được coi là môn đệ của chủ nghĩa pháp lý trong bối cảnh Trung Quốc.

Khổng giáo, mặt khác, tập trung vào khái niệm mệnh lệnh của thiên. Sự hợp pháp của đạo đức là cơ sở của sự cai trị. Người cai trị có quyền cai trị thiêng liêng miễn là anh ta chăm sóc phúc lợi của người dân, nhưng sẽ có nguy cơ bị lật đổ nếu anh ta thất bại trong nhiệm vụ này. 
Trở thành một người cai trị giỏi đòi hỏi không chỉ đưa ra các mệnh lệnh đúng thủ tục mà còn hành vi đạo đức. Và tính hợp pháp về hiệu suất, đảm bảo phúc lợi của người dân là một khía cạnh quan trọng của tính hợp pháp của nhà nước. Nói tóm lại, Nho giáo chủ yếu là về công lý thực chất, chứ không phải tính hợp pháp về thủ tục.

Hơn nữa, bằng cách liên kết quyền cai trị với tính hợp pháp thực hiện, tư tưởng Nho giáo ngụ ý rằng người cai trị ở Trung Quốc không hoàn toàn là thần thánh. Ông đã phải trao đổi đáng kể. Sự ủy thác của trời, theo logic châu Âu, miễn là các thủ tục tiếp được theo dõi một cách chính xác, sự cai trị của vua được coi là hợp pháp. 
Và quan điểm này vẫn tồn tại ở phương Tây ngay cả trong thời kỳ hiện đại: nói chung, miễn là các thủ tục bỏ phiếu được thực hiện chính xác, một nhà lãnh đạo trong một nền dân chủ là hợp pháp cho dù anh ta xấu đến mức nào. Truyền thống Trung Quốc được quyết định không phải là điều đó.

Một phiên bản đơn giản của lịch sử sẽ gợi ý rằng, trong cuộc đấu tranh lớn giữa chủ nghĩa pháp lý và Nho giáo trong những năm đầu của triều đại nhà Hán, sau này đã nổi lên chiến thắng và đã trở thành nền tảng chính trị của Trung Quốc trong hai thiên niên kỷ. 
Nhưng nó phức tạp hơn thế. Trên thực tế, hầu hết các nhà sử học đều đặt tên cho thời kỳ xác định này trong lịch sử chính trị Trung Quốc là Thời đại Tần-Hán. Họ nhóm nhà Tần (chủ nghĩa pháp lý) và nhà Hán (Nho giáo) với nhau. Zhao Dingxin giải thích trong cuốn sách của mình, Nhà nước Nho giáo - Pháp lý , rằng mặc dù nhà Hán đã coi Nho giáo là hệ tư tưởng nhà nước chính thức, chủ nghĩa pháp lý luôn là một phần không thể thiếu trong hiến pháp chính trị của Trung Quốc.

Cách tiếp cận theo thủ tục đối với luật pháp Chủ nghĩa pháp lý của nhà Tần đã phục vụ như một phương pháp quản trị thực tế trong tất cả các triều đại Trung Quốc. 
Mọi người mong đợi sự chung chung, tính quy định và sự bình đẳng trong việc thiết kế các quy tắc. Tuy nhiên, Nho giáo tập trung vào các mục đích cao hơn: ràng buộc người cai trị, đảm bảo công lý thực chất và duy trì các giá trị cộng sản.

Khổng giáo đã cố gắng giải quyết vấn đề muôn thuở của sự cai trị của pháp luật. Cách làm thế nào để buộc nhà cai trị có chủ quyền, cho dù đó là một vị vua hay một quốc hội. 
Học thuyết Khổng giáo cả về mặt khái niệm và thể chế đã tìm cách cung cấp một kiểm tra về quy tắc chủ quyền. Trong nhiều thế kỷ, nó hoạt động theo những cách không giống với cách mà luật tục của người Đức hoạt động ở châu Âu thời phong kiến. Tamanaha đưa ra một lời giải thích ngắn gọn về nguồn gốc thời trung cổ của nhà nước pháp quyền ở phương Tây, dựa trên sự hợp nhất giữa luật pháp và đạo đức của người Hồi giáo: 
Người cai trị trả lời cho một trách nhiệm đạo đức cao hơn thủ tục pháp lý đơn thuần. Thật vậy, cả người cai trị và người bị trị đều bị ràng buộc bởi luật đạo đức cao hơn này. 
Người cai trị, bằng cách tuyên bố nghĩa vụ của mình đối với luật đạo đức cao hơn này đã ràng buộc chính mình trong sự cai trị của anh ta, và tính hợp pháp của anh ta trước khi người cai trị nghỉ ngơi khi tôn vinh lời thề đó. 
Phong tục này đã trao cho người bị trị, trong một số trường hợp nhất định, quyền của người kháng chiến, nếu người cai trị vi phạm nghĩa vụ của mình.
Khổng giáo ra lệnh rằng thiên mệnh của hoàng đế chỉ có thể dựa trên sự cai trị đạo đức. Tính hợp pháp của người cai trị chỉ có giá trị nếu anh ta cai trị vì lợi ích chung. Mạnh Tử đã đi xa đến mức cho rằng một người cai trị vi phạm quy tắc đạo đức có thể bị phế truất.

Ở cấp độ thể chế, Nho giáo đã định hình hệ thống quản trị quan lại rất công phu, qua đó một cán bộ  có quyền lực hiệu quả quản lý đất nước. Những shi da fu này là hiện thân của đạo đức Nho giáo và phục vụ như một sự kiểm tra thể chế về quyền lực tuyệt đối của hoàng đế, sở hữu quyền Khổng giáo không đồng ý hoặc thậm chí chỉ trích hoàng đế.  
Quyền nổi loạn đã được ngầm định và thực sự được chứng thực bởi sự lật đổ bạo lực của các triều đại cứ sau hai hoặc ba trăm năm, sau đó là các triều đại mới với các mệnh lệnh mới của thiên.
Bằng cách mở rộng, kiểm tra Nho giáo này về quyền lực có chủ quyền cũng đóng vai trò là cấu trúc chính trị và pháp lý để cung cấp công lý thực chất khi các thủ tục một mình không đầy đủ. Trong lịch sử triều đại của Trung Quốc, có nhiều ví dụ về kết quả thủ tục trái với các giá trị đạo đức của xã hội. Trong các trường hợp hóa ra thành công, đạo đức đã thắng thế. Và điều này không thể được coi là chống lại tinh thần của nhà nước pháp quyền; rất nhiều điều ngược lại là đúng.

Điều này, tất nhiên, hoàn toàn không phù hợp với khuôn khổ trí tuệ của nhà nước pháp quyền ở phương Tây. Ronald Dworkin, chẳng hạn, đưa ra ý tưởng rằng đạo đức tạo thành nền tảng và là một khía cạnh không thể thiếu của luật tích cực, mặc dù đạo đức không thực sự được thiết lập bởi luật tích cực. 
Trách nhiệm của các thẩm phán là đưa ra các quyết định phù hợp với sự đồng thuận về đạo đức và chính trị của cộng đồng, và điều bắt buộc này là trên và vượt ra ngoài các quy tắc trong cuốn sách.

Chắc chắn, đạo đức Nho giáo khác biệt rõ rệt với chủ nghĩa tự do của Dworkin. Nhưng ngay cả ở đây, có những khu vực có ý nghĩa chồng chéo giữa nhà nước pháp quyền Nho giáo và sự tiến hóa của nhà nước pháp quyền tự do. Liên quan nhất là sự tương đồng với chủ nghĩa cộng sản hiện đại.

Ở phương Tây, các nhà lý thuyết cánh tả từ lâu đã cho rằng sự cai trị tự do của luật pháp là thiếu sót một cách vô lý do sự giả định ban đầu của các cá nhân tự trị gia nhập với nhau để tạo ra một trật tự pháp lý nhằm tạo điều kiện cho việc theo đuổi tầm nhìn của chính họ, hạn ngạch Tamanaha. 
Sự chỉ trích này chỉ tăng cường và mở rộng kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, và hiện thường xuyên được nghe từ cả cánh tả và cánh hữu. 
Nhà nước pháp quyền tự do nhấn mạnh vào công lý tố tụng dựa trên giá trị cơ bản của chủ nghĩa cá nhân đã góp phần nguyên tử hóa các cộng đồng trong thế giới phương Tây và do đó làm trầm trọng thêm sự suy giảm của công lý thực chất. 
Chủ nghĩa cộng sản, trong bối cảnh này, hợp nhất Cánh tả và Quyền để kêu gọi công lý thực sự, có thể là bình đẳng thu nhập hoặc gắn kết xã hội, huy động một cộng đồng các giá trị chung xung quanh một lợi ích chung. 
Do nhiều người Mỹ khao khát sự trở lại của cộng đồng hoặc tiến lên chủ nghĩa xã hội, không đề cập đến xu hướng mạnh mẽ hơn nhiều ở các quốc gia châu Âu, các phong trào cộng sản có thể sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn trong nửa đầu thế kỷ này.
Và đây chính xác là vai trò mà Nho giáo đã đóng trong nhiều thế kỷ trong sự phụ thuộc của chủ nghĩa pháp lý. Các giá trị và mục đích của cộng đồng đã đóng vai trò bao trùm nhà nước pháp quyền Trung Quốc. 
Các quy tắc phải được áp dụng nghiêm ngặt nhưng chỉ phù hợp với tinh thần Nho giáo. Đức tin cộng sản nằm ở nền tảng của chính trị Nho giáo, tian xia wei chiêng . . . shi wei da tong (trời và đất cho tất cả, đó là điểm chung lớn).
Giống như Aristotle và hậu duệ trí thức của ông, những người đã đấu tranh với ý tưởng về luật pháp ở phương Tây, người Trung Quốc đã nhận ra từ lâu rằng luật pháp không thể vô hồn. 
Đồng thời, linh hồn của pháp luật cần phải được hài hòa với các quy tắc tố tụng trong việc áp dụng luật. Điều này, tất nhiên, không phải là nhiệm vụ dễ dàng và có thể không bao giờ được thực hiện đầy đủ.

Đảng và pháp luật: Hiện tại và tương lai
Một câu hỏi đã thúc đẩy các cuộc tranh luận chính trị kéo dài trong và về Trung Quốc là: đảng hay luật pháp, cái nào quan trọng hơn? Hoặc cái nào quan trọng hơn ( dang da hai shi fa da )? 
Phe bảo thủ nói rằng đảng đang và nên; Những người tự do nói rằng đảng là nhưng luật pháp nên được. Cả hai đều bỏ lỡ điểm. Cả hai đều đọc sai bản chất cơ bản và các vấn đề của nhà nước pháp quyền.

Cấu trúc của nhà nước pháp quyền Trung Quốc phụ thuộc vào sự kết hợp của các thủ tục pháp lý với sự giám sát của đảng. Trong bốn mươi năm qua, đất nước này đã phát triển một hệ thống luật pháp phức tạp. 
Những lời chỉ trích chính là việc thực thi đã thiếu, nhưng hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng việc thực thi và tính chuyên nghiệp của các tòa án đã được cải thiện đều đặn.
Vấn đề gây tranh cãi là vai trò của đảng. Ủy ban Chính trị và Pháp luật của Ủy ban Trung ương vẫn là quyền lực cao nhất của quốc gia về các vấn đề pháp lý. 
Cơ cấu ủy ban kỷ luật đảng giữ cho tất cả các đảng viên chịu trách nhiệm về các quy tắc của đảng, khác biệt và chặt chẽ hơn các quy tắc pháp lý chính thức và cho phép đảng đưa ra các hình phạt bên ngoài cấu trúc pháp lý chính thức của đất nước.
Tuy nhiên, dưới sự hiểu biết phong phú hơn về lịch sử và lý thuyết đằng sau nhà nước pháp quyền, những sự sắp xếp này có thể nằm trong khuôn khổ khái niệm của quy tắc luật pháp ngay cả trong truyền thống phương Tây. 
Đảng đại diện cho chủ quyền chính trị; luật pháp không thể ràng buộc quyền lực chủ quyền đó trong lý thuyết hoặc trong thực tế. Nhưng đảng tuyên bố chính mình bị ràng buộc, và người dân mong đợi sự ràng buộc đó như là một cơ sở của tính hợp pháp chính trị của đảng. 
Thật vậy, đảng này buộc các thành viên của mình phải có các tiêu chuẩn ứng xử cao hơn và các hình phạt nghiêm khắc hơn cho các vi phạm. Và theo cách rất thực tế này, đảng thực sự bị ràng buộc bởi luật pháp, ít nhất là không kém hơn các hình thức quyền lực có chủ quyền khác.

Quan trọng hơn, đảng, thông qua Ủy ban Chính trị và Pháp luật của Ủy ban Trung ương, đóng vai trò là người đòi hỏi cuối cùng về công lý thực chất, giống như cấu trúc chính trị / đạo đức của Khổng giáo đã làm trong nhiều thế kỷ, và các giá trị và thể chế tự do hiện đang được thực hiện trong các xã hội phương Tây. 
Tất nhiên, các giá trị trải qua công lý thực chất là khá khác nhau. Đảng ủng hộ hệ tư tưởng Nho giáo - Xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc và các thể chế tự do của phương Tây giữ vững các cam kết đạo đức của chủ nghĩa tự do. Nhưng chúng tôi đã xác định rằng nhà nước pháp quyền không phải là và không bao giờ là mục đích độc quyền của chủ nghĩa tự do.

Khi công lý tố tụng tạo ra kết quả trái ngược với quan niệm chấp nhận chung của xã hội về công lý thực sự, và khi sự bất đồng công khai có ý nghĩa và được thể hiện rõ ràng, đảng có thẩm quyền bước vào và đưa ra sự cân bằng công lý có lợi cho cộng đồng. 
Ở Trung Quốc đương đại, những trường hợp như vậy rất hiếm, nhưng chúng thực sự đã xảy ra và tạo ra những tác động xã hội rộng lớn. Một số người đã chỉ trích sự can thiệp như vậy của đảng là đi ngược lại những lý tưởng của nhà nước pháp quyền, nhưng chính quyền lực diễn giải này là một phần không thể thiếu của nhà nước pháp quyền. Sức mạnh diễn giải như vậy vốn là chính trị. Sự hiện diện của chính trị trong nhà nước pháp quyền là độc lập với ý thức hệ của chế độ cụ thể liên quan. Chính trị tự do là trong phạm vi tự do của pháp luật. Và chính trị Nho giáo - Xã hội chủ nghĩa nằm trong sự cai trị của pháp luật Trung Quốc.

Quyền lực chính trị của đảng đối với các thủ tục pháp lý cũng đóng vai trò là người bảo đảm cuối cùng đảm bảo rằng công lý tố tụng không thay thế các giá trị cơ bản của chính quyền, như trong tuyên bố của Dworkin rằng sự đồng thuận của xã hội tự do đối với các mệnh lệnh đạo đức là nền tảng của luật pháp và các ứng dụng của họ. 
Ở Trung Quốc, đảng này đóng vai trò này thay vì một cơ quan tư pháp độc lập. Do đó, câu hỏi liệu đảng hay luật quan trọng hơn là sự phân đôi giả.

Để chắc chắn, sự rõ ràng về khái niệm không có nghĩa là thực tế không lộn xộn trên mặt đất. Ở Trung Quốc, sự phát triển của nhà nước pháp quyền đã và chắc chắn là lộn xộn. 
Các cấp ủy ở các cấp khác nhau thường can thiệp tùy tiện vào các thủ tục tố tụng. Có một ranh giới mỏng giữa việc đảm bảo công lý thực sự và can thiệp chính trị bừa bãi thay mặt cho lợi ích đặc biệt, hoặc tệ hơn, cho các mục đích tham nhũng chính đáng.
Ở phía bên kia, chủ nghĩa pháp lý quá mức cũng gây khó khăn cho sự phát triển của nhà nước pháp quyền Trung Quốc. Trong một nỗ lực dễ hiểu để tránh xa sự cai trị của con người sau Cách mạng Văn hóa, cơ quan lập pháp và tư pháp đã pháp luật hóa các phần ngày càng lớn hơn của các hoạt động dân sự và thương mại. 
Trong nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như bảo vệ môi trường và tranh chấp trong nước, các bộ luật hợp pháp được xây dựng và cần được áp dụng theo kiểu thống nhất trên toàn quốc và việc thực thi nghiêm ngặt các luật hiện hành vẫn là một vấn đề và nguồn khiếu nại.
Nhưng cũng đúng là nhiều luật trong số này, nếu được áp dụng một cách nghiêm ngặt, không được xem xét cho hoàn cảnh thực tế và sự khác biệt trong khu vực, giữa cộng đồng thành thị và nông thôn và xã hội đặc biệt khác, các nhóm có thể chứng minh thực tế không phù hợp và trái với mục đích của công bằng xã hội.
Nhìn về phía trước, xử lý các vấn đề này và hài hòa vô số xung đột vốn là nguyên tắc của luật pháp và đặc biệt đối với hoàn cảnh của Trung Quốc sẽ là một quá trình lâu dài và gian khổ. Nhưng có những lý do cho sự lạc quan. Cả đảng và công chúng đều muốn có một xã hội trong đó các quy tắc chung được đưa ra trước và được áp dụng như nhau. T
hủ tục Tư pháp  đã và đang được tăng cường.

Đồng thời, sự đồng thuận chung về các giá trị và các mệnh lệnh đạo đức trong xã hội Trung Quốc hiện là mạnh nhất có lẽ trong một thế kỷ rưỡi. Trong tương lai gần, các mệnh lệnh đạo đức của quốc gia Trung Quốc rất rõ ràng và đơn giản: 
CNXH và phục hưng dân tộc. 
Trước đây là giáo phái Nho giáo hai nghìn năm của một xã hội bình đẳng và công bằng đối với những người tốt bụng được thể hiện dưới hình thức hiện đại. 
Sau này là đỉnh cao của các cuộc đấu tranh để tồn tại mà thống nhất toàn bộ một dân tộc trong thời kỳ hiện đại. Nhà nước pháp quyền Trung Quốc, theo hướng thủ tục nào, nó có thể phát triển theo hướng, có linh hồn. 
Đảng, nếu bảo vệ chống tham nhũng và tinh hoa, sẽ tiếp tục thể hiện linh hồn của công lý thực sự, và hiện thân như vậy sẽ tiếp tục được người dân chấp nhận.
Có lẽ đã đến lúc chúng ta giải phóng nhà nước pháp quyền khỏi sự ràng buộc về ý thức hệ không chính đáng của chủ nghĩa tự do. Như Randall Peerenboom đã chỉ ra trong cuốn sách dài tháng 3 của mình về Luật pháp , Trung Quốc không cần chủ nghĩa tự do để có luật pháp. 
Lý do tương tự áp dụng cho các xã hội không cố ý khác. Chúng ta có thể thấy nhiều khả năng mới để thực hiện những lời hứa của nhà nước pháp quyền trong một thế giới đa nguyên hơn.

Điều trớ trêu là nhà nước của nhà nước pháp quyền dường như mong manh nhất trong các xã hội tự do, và điều này liên quan đến một cách cơ bản hơn. Trên khắp các xã hội tự do ở phương Tây, sự đồng thuận đạo đức của họ đã bị phá vỡ. Các cộng đồng đang phân rã và các xã hội bị phân cực dựa trên các giá trị cơ bản như bản sắc, giới tính và bình đẳng. 
Chủ nghĩa tự do đã trở thành nạn nhân của những xung lực tồi tệ nhất của khuynh hướng chống cộng. Có lẽ do đó, công lý theo thủ tục đã trở thành một trò chơi hoàn toàn chính trị và đối nghịch. 
Luật pháp không thể duy trì tính hợp pháp lâu dài. Giới tinh hoa phương Tây sẽ được khuyên nên tập trung vào nội tâm thay vì tiếp tục các chương trình luật pháp trên khắp thế giới.
Trung Quốc và pháp luật bởi Eric Li
Bài viết này ban đầu xuất hiện trong American III Tập III, Số 3 (Mùa thu 2019)


Kinh tế gia tộc, gia đình có 03 trường phái chính là Anglo, Nho giáo và Nam Á (cụm Nam Á được thành lập theo trình tự văn hóa kéo dài từ Ba Tư cổ đại đến Philippines hiện đại (Gupta và Hang 2004)).
Hôm nay tôi sẽ trình bày quản trị theo trường phái Khổng giáo, còn 2 phái kia nếu nhiều bạn yêu cầu cũng sẽ trình bày.
Các cụm Nho giáo châu Á được xác định bởi lịch sử mạnh mẽ ảnh hưởng của Trung Quốc và hệ tư tưởng Nho giáo (Gupta và Hanges 2004). 
Xã hội Nho giáo được phân biệt bởi sự phụ thuộc của họ vào các mạng khác được điều phối thông qua cơ chế tin cậy (Lowe 1998). 
Văn hóa Nho giáo châu Á được phân biệt bởi hiệu suất mạnh mẽ và định hướng gia đình, và chủ nghĩa tập thể mạnh mẽ. Đồng thời, các xã hội Nho giáo châu Á không tin vào việc tăng đáng kể định hướng hiệu suất, định hướng gia đình, hoặc, cho vấn đề đó, giới tính chủ nghĩa bình quân (Gupta và Hanges 2004).
Các doanh nghiệp gia đình có một truyền thống mạnh mẽ trong Nho giáo châu Á khu vực. Kinh doanh gia đình là một hình thức thống trị giữa các Chaebols ở Hàn Quốc; ở TQ kinh doanh là một hình thức thống trị (El-Kahal 2001). 
Gupta et al. (2008b) kết luận rằng hầu hết các doanh nghiệp gia đình trong cụm có xu hướng thích ứng với các thành viên gia đình bằng cách đa dạng hóa vào các ngành kinh doanh mới.
Ranh giới giữa gia đình và doanh nghiệp
Ranh giới giữa gia đình và doanh nghiệp bị điều chỉnh yếu. Gia đình duy trì sự kiểm soát khá mạnh mẽ trên các nguồn lực của doanh nghiệp gia đình và phân bổ của nó kể từ khi kinh doanh được coi là một tài sản của gia đình. 
Doanh nghiệp gia đình có thể có nghĩa vụ phải chăm sóc các thành viên gia đình trong thời gian cần, bao gồm cung cấp cho họ tài trợ và kết nối để bắt đầu kinh doanh độc lập của riêng họ. 
Ngược lại, kinh doanh gia đình có thể gọi vốn xã hội của các thành viên trong gia đình, nếu nó phải đối mặt hạn chế về tài chính. Trong mọi trường hợp, nguồn lực cốt lõi của gia đình và doanh nghiệp - vốn xã hội của nó - tạo thành một nhóm chung. 
Ví dụ, Bruun (1993) thảo luận về một hình thức gia đình đặc biệt của một doanh nghiệp gia đình Nho giáo (CAFB), nơi ranh giới giữa gia đình, kinh doanh gia đình và các mạng lưới bên ngoài gần như vô hình và thậm chí nhân tạo. 
Nhiều doanh nghiệp gia đình được điều hành như một cửa hàng gắn liền với nhà ở nơi cửa hàng là trung tâm của tất cả các hoạt động. Mọi thành viên trong gia đình đều giúp đỡ trong việc điều hành nó, và trong giới hạn của nó, trẻ em được nuôi dưỡng, các thành viên gia đình già có xu hướng, và bạn bè và hàng xóm đến thăm.

Danh tiếng
Ở Khổng giáo châu Á, người ta chú trọng nhiều hơn đến danh tiếng gia đình, và các gia đình có thành viên nắm giữ các cơ quan công quyền quan trọng được coi là có danh tiếng cao nhất. 
Tuy nhiên, hoạt động của một doanh nghiệp gia đình cũng là một điểm đánh dấu về tình trạng gia đình và vốn xã hội, được vận hành để tăng cường sự giàu có của gia đình và tạo ra các nguồn lực để giáo dục trẻ em.

Kết nối
Ở Khổng giáo châu Á, các mối quan hệ bắc cầu ít quan trọng hơn. Ưu đãi đặc biệt và đặc quyền được trao cho những người có một số loại kết nối. Các doanh nghiệp gia đình có xu hướng bắt chước nhau trong điều khoản của loại hình hoạt động, thị trường và ngành nghề kinh doanh, và đa dạng hóa vào các lĩnh vực tương tự như các gia đình khác trong khu vực của họ.
Phạm vi của các mối quan hệ thị trường trong gia đình Nho giáo châu Á Kinh doanh (CAFB) được hướng dẫn bởi guanxi. 
Guanxi là một khái niệm trung tâm trong Xã hội Trung Quốc và là một thuật ngữ mô tả một mạng lưới cá nhân hóa ảnh hưởng - mối quan hệ giữa hai người trong đó một người có thể kêu gọi người khác cung cấp dịch vụ, thực hiện một ân huệ hoặc yêu cầu giúp đỡ khi cần làm gì đó. 
Những kết nối này kết nối một kinh doanh với khách hàng, nhà cung cấp hoặc thông tin thị trường (Trimarchi 2008). Xu hướng là tham gia với những người có văn hóa tương tự -những người từ cùng một gia tộc hoặc làng ở Trung Quốc hoặc những người nói cùng một phương ngữ (Weidenbaum 1996).

Tổ chức chuyên nghiệp
Ở Khổng giáo châu Á, tính chuyên nghiệp thường bị giới hạn trong các quyết định hoạt động. Lãnh đạo cấp cao mong đợi sự tiếp xúc và giao tiếp phong phú từ các nhà quản lý chuyên nghiệp, và giao tiếp như vậy là biểu thị sự trung thành và cam kết của các nhân viên không phải là gia đình.
Quy trình hoạch định và ra quyết định chiến lược có xu hướng liên quan chỉ vòng tròn bên trong của gia đình, và có thể dựa trên trực giác, hơn là lập kế hoạch chính thức. 
Vì guanxi ở vùng Khổng giáo, mối quan hệ cá nhân thường được ưu tiên hơn hiệu quả tổ chức (Weidenbaum 1996). Đôi khi, một số tổ chức bị áp lực phải thuê người quản lý chuyên nghiệp hoặc phát hành cổ phiếu do họ tăng qui mô, đặc biệt nếu họ đang hoạt động trong một lĩnh vực trong đó công nghệ phức tạp được sử dụng để cung cấp dịch vụ. Khi điều này xảy ra, các tài sản mong muốn nhất vẫn nằm dưới sự kiểm soát của tư nhân bởi gia đình sáng lập (Weidenbaum 1996).

Quyền lực của gia đình
Ở Khổng giáo châu Á, việc thực thi quyền lực của gia đình rất cao cá nhân hóa. Ngay cả khi quản trị chính thức không nằm trong tay của gia đình, gia đình thực hiện sức mạnh từ hậu trường.
Ngay cả các nhà quản lý chuyên nghiệp được trả lương cao cũng nhanh chóng gặp phải giới hạn của thẩm quyền của họ, đặc biệt là khi họ đối phó với các thành viên gia đình trên danh nghĩa báo cáo cho họ. Cùng với quản lý hàng đầu, hầu hết CAFB Ban điều hành bao gồm hầu hết các thành viên trong gia đình, mang lại quyền quyết định chỉ cho gia đình. Các ban điều hành thường rất không chính thức và các cuộc họp của người Viking chỉ được tổ chức như một hình thức, vì chúng được pháp luật yêu cầu cho các công ty giao dịch công khai.
Các nhóm doanh nghiệp dân tộc Trung Quốc đã duy trì gia đình mạnh mẽ kiểm soát mặc dù nắm giữ rằng, đôi khi, tổng số hàng tỷ đô la và phạm vi trên một loạt các ngành công nghiệp cũng như các quốc gia hoạt động (Weidenbaum 1996).

Kế vị
Ở Khổng giáo châu Á, quá trình kế vị liên thế hệ có xu hướng được hợp tác. Tiêu chí để kế tiếp hiếm khi được khớp nối; thay thế, yếu tố cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định ai sẽ là người kế nhiệm.
Trên thực tế, định hướng chiến lược của doanh nghiệp có thể được thay đổi để phù hợp với lợi ích và chuyên môn của những người kế nhiệm có sẵn, chẳng hạn như bằng cách tập trung vào địa lý nơi người kế thừa tiềm năng quan tâm đến việc giải quyết. 
Người tiền nhiệm tìm cách chuẩn bị kế vị thông qua giáo dục, bằng cách giới thiệu họ với mạng xã hội của họ kết nối, bằng cách tổ chức các cuộc họp mặt gia đình thường xuyên và cung cấp cho họ những kinh nghiệm liên quan. 
Tuy nhiên, họ hiếm khi để cho người kế nhiệm kiểm soát chiến lược đầy đủ. Mặc dù người ngoài gia đình có thể được xem xét để kế vị nếu không có người kế nhiệm. 
Nhưng khi những đứa trẻ lớn lên, người ngoài gia đình được mong đợi để đào tạo và truyền sức mạnh lãnh đạo cho chúng. Ngay cả sau khi sự kế thừa chính thức của quyền sở hữu, người tiền nhiệm và người kế nhiệm thường làm việc cùng nhau, chia sẻ quyền lực và quyền sở hữu một cách không chính thức. 
Các người tiền nhiệm thường xem thay đổi là gây rối và vẫn cam kết với sứ mệnh ban đầu của công ty, ngay cả khi hàng hóa và dịch vụ không có
cần thiết hơn trên thị trường (Chung và Yuen 2003).

Giới tính
Vai trò lãnh đạo của phụ nữ trong các doanh nghiệp gia đình Nho giáo châu Á là tương đối hạn chế. Kế vị thường chỉ xảy ra với trẻ em nam, trừ khi không có trẻ em nam có thẩm quyền. Con gái có nghĩa vụ về mặt đạo đức để tham gia kinh doanh gia đình và giúp đỡ cha mẹ. 
Cô vẫn chỉ được giao vai trò quản lý bộ phận, và nói chung không được đề cao vai trò lãnh đạo cấp cao một cách dễ dàng. Tuy nhiên, con gái có thể có thể đảm bảo hỗ trợ gia đình để bắt đầu dòng riêng của doanh nghiệp gia đình, nếu họ rất quan tâm.
Bruun (1993) xây dựng về các khía cạnh văn hóa của việc định tâm giới lãnh đạo ở Khổng giáo châu Á. Trong khu vực, các gia đình theo hệ thống tuần tra, trong đó con gái rời đi khi kết hôn, và con trai cả, và, nếu có thể, những người trẻ hơn tiếp tục dòng họ. 
Trong gia đình, ra quyết định và quyền hạn đối với người khác là đặc quyền của người đàn ông lớn tuổi nhất, và cấu trúc quyền lực này mở rộng ra cho gia đình kinh doanh. 
Một điều bất thường thú vị là ở hầu hết các gia đình, tài chính gia đình được kiểm soát bởi người phụ nữ lớn tuổi nhất. Tục ngữ Nho giáo quy định rằng phụ nữ tốt hơn với tiền bạc. Theo đó, phụ nữ quản lý tài chính của nhiều CAFB.

Khả năng phục hồi
Trong các doanh nghiệp gia đình Nho giáo, văn hóa điều hành có xu hướng có khả năng phục hồi cao. Nhu cầu cung cấp động lực kinh doanh gia đình chuyển thành tăng trưởng theo hướng kinh doanh thông qua đa dạng hóa và các phương tiện khác. 
Nhân viên đáng tin cậy được đồng chọn để thực hiện những thay đổi lớn cần thiết vì lực lượng cạnh tranh, nếu thành viên gia đình không có sẵn. Doanh nghiệp gia đình có xu hướng phát triển thành một nhóm bao gồm các công ty độc lập, liên kết lỏng lẻo với công ty cốt lõi. 
Cấu trúc này cũng giúp hình thành các liên doanh và hợp tác, và các công nghệ an toàn từ các đối tác nước ngoài. Cốt lõi các nhóm kinh doanh có được mức độ sở hữu khác nhau trong hàng chục và đôi khi hàng trăm, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 
Kết quả là một mạng lưới nắm giữ, được củng cố bằng cách đặt các thành viên gia đình vào các vị trí quản lý chủ chốt (Weidenbaum 1996). CAFB là được trang bị tốt để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng trong quốc tế thị trường và có thể chuyển từ các ngành đang suy giảm sang các thị trường mới (Trimarchi 2008). 
Khả năng phục hồi hoạt động của CAFB có thể được liên kết với lịch sử thành lập của họ. Carney và Gedajlovic (2008) quan sát rằng CAFB là một sản phẩm của sự hỗn loạn chính trị nước nhà, và sử dụng động lực khởi nghiệp của họ để biến đổi từ nghèo khó tới đỉnh cao.

Nhiều đặc điểm của CAFB được liên kết trực tiếp với ảnh hưởng của Khổng giáo trong khu vực. Nho giáo phác thảo một bộ cụ thể một nghĩa vụ cá nhân bắt đầu trước tiên với nhà nước và thứ hai với gia đình. 
Carney và Gedajlovic (2008) quan sát cách CAFB tận dụng mối quan hệ văn hóa, lề xã hội và sự kiêu ngạo của phương Tây, để thiết lập một loạt các liên doanh thiểu số, thỏa thuận cấp phép và thỏa thuận chia sẻ công nghệ với doanh nghiệp phi gia đình đối tác. 
Thông qua những mối quan hệ này, họ đã có thể phát triển và có được năng lực kỹ thuật quá trình cơ bản.
Một mức độ thấp của quy định được tìm thấy trong các doanh nghiệp Nho giáo châu Á có thể phản ánh tính năng văn hóa của chủ nghĩa 
thể chế tập thể ; hiệu suất đạt được không thông qua chuyên nghiệp và danh tiếng kinh doanh, nhưng thông qua gia đình và mạng lưới niềm tin tập thể phi gia đình. 
Các mạng lưới tập thể này cũng dẫn đến một mô hình hợp tác để kế nhiệm. Giá trị thấp của chủ nghĩa bình đẳng giới là phản ánh trong một sự nhấn mạnh thấp hơn về lãnh đạo tập trung vào giới.
Khổng giáo châu Á chú trọng vào việc tráng men và xếp tầng các mối quan hệ cho phép gia đình hợp tác và bảo đảm hợp tác rộng lớn hơn để hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp. 



Truyền thống và sự thay đổi
Trong văn hóa Trung Quốc, bạn phải tôn trọng cha và mẹ của mình. Sự tôn trọng này giết chết sự sáng tạo. Nếu bạn phải tôn trọng những gì cha bạn nói, thì bạn có xu hướng giết chết suy nghĩ của chính mình.
Các con trai, con gái và cháu của các doanh nhân thế hệ đầu tiên đã đồng hóa ở một mức độ lớn hơn nhiều. Người gốc Trung Quốc hiện được sinh ra trên khắp thế giới; họ đa văn hóa, sống và được giáo dục theo cách khác với cha mẹ của họ. 
Trong khi người Trung Quốc thế hệ thứ hai và thứ ba vẫn tôn trọng doanh nghiệp gia đình, những doanh nhân trẻ này cũng đã tiếp thu các giá trị khác, đặc biệt nếu họ sống ở các nước phương Tây như Hoa Kỳ.
Công ty Trung Quốc phụ thuộc ít vào dữ liệu và nhiều hơn vào trực giác, cảm xúc và con người.  Bạn phải phụ thuộc vào hệ thống để làm việc. Tất nhiên bạn phải tôn trọng cấu trúc kinh doanh của gia đình, nhưng bây giờ những đóng góp cá nhân rất quan trọng.
Giống doanh nhân mới của khối thịnh vượng chung đã chuyển từ tâm lý sống sót sang tập trung vào tự thực hiện, một mục tiêu phản ánh các triết lý và thực tiễn phương Tây. 
Trong nghiên cứu của tôi, những người được hỏi đã trích dẫn các yếu tố này mềm nhất của Google, rất quan trọng để cải thiện công việc kinh doanh của họ trong tương lai: 
Quản lý tăng trưởng, nuôi dưỡng sự sáng tạo, phát triển các kỹ năng giao tiếp và đối đầu cởi mở hơn và khuyến khích chuyên nghiệp hóa tổ chức và đồng hóa trơn tru với người ngoài.

Ví dụ, Tập đoàn Acer tại Đài Loan tiếp thị thương hiệu máy tính nhái của riêng mình tại hơn 70 quốc gia và là một trong những công ty máy tính cá nhân lớn nhất thế giới. 
Nhân viên của Acer được khuyến khích sở hữu cổ phiếu của công ty; sự nhấn mạnh của công ty vào việc phân cấp, thực hiện R & D của riêng mình và tạo thương hiệu riêng đã trở thành mô hình được đánh giá cao cho các doanh nghiệp khác ở Đài Loan. Tuy nhiên, CEO và đồng sáng lập Stan Shih cho rằng nhiều thế mạnh lớn nhất của công ty, đặc biệt là sự ổn định của các nhà quản lý cấp cao của nó đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc.

Tập đoàn Pico tại Singapore là một sự pha trộn khác của phong cách quản lý truyền thống và phương Tây. Pico bao gồm 300 công ty hoạt động tại 25 quốc gia, tập trung vào tất cả mọi thứ, từ thiết kế và chế tạo các triển lãm đến các dịch vụ tiếp thị đến các doanh nghiệp giải trí như trung tâm trò chơi và các buổi trình diễn tại Broadway. 2.500 nhân viên của Pico nhận được tiền thưởng và tùy chọn cổ phiếu và có thể tham gia vào các kế hoạch chia sẻ lợi nhuận. Các nhà quản lý có thể chỉ đạo đầu tư của bất kỳ thặng dư từ các đơn vị điều hành của họ.
Tuy nhiên, Pico được thành lập bởi ba anh em; và ba trong số bốn nhóm kinh doanh chính của nó vẫn được điều hành bởi các thành viên gia đình. Giám đốc điều hành của nhóm thứ tư, tập trung vào lĩnh vực kinh doanh giải trí mới, là một người bạn gia đình lâu năm. 
Trên thực tế, tất cả các nhà quản lý hàng đầu của Pico, một nửa trong số họ được giáo dục ở nước ngoài, khởi nghiệp như những người bạn của gia đình thay vì làm thuê.
Bản thân Trung Quốc vẫn chưa phát triển một mô hình dân chủ thực sự; các thể chế truyền thống của nó luôn luôn dựa trên chế độ đế quốc, có thể là chính phủ, doanh nghiệp kinh doanh hoặc gia đình. 

Bàn đạp vốn
Sự bùng nổ của các ngành công nghiệp công nghệ cao ở châu Á và sự mở cửa chính trị của Trung Quốc trong những năm 1980 đã củng cố và sẽ tiếp tục mở rộng sự thịnh vượng chung của Trung Quốc ngày nay. Nhưng có lẽ sự phát triển quan trọng nhất đã củng cố sự thịnh vượng chung là làm thế nào nhiều cộng đồng người Hoa đã trở nên giàu có.

Tại Indonesia, một cá nhân gốc Trung Quốc, Liêm Sioe Liong, được cho là tạo ra 5 % tổng sản phẩm quốc nội của đất nước thông qua Tập đoàn Salim. Và Institutional Investor đã ước tính rằng các tài sản tư nhân của khu vực Đông Nam Á của 40 triệu dân tộc Trung Quốc vượt quá $ 200 tỷ.

Bởi vì nguồn vốn sẵn có chưa từng có, một nền chính trị tinh vi của Trung Quốc đã xuất hiện trên trường thế giới. Trên thực tế, những người cầm quyền này là những người bảo vệ các doanh nhân quy mô lớn trong khối thịnh vượng chung của Trung Quốc, cho dù đó là việc xây dựng đường cao tốc hay tạo ra một dịch vụ truyền hình vệ tinh từ khi bắt đầu.
Ngôi sao truyền hình của tỷ phú Li Ka Shing ở Hồng Kông phát sóng các dịch vụ giải trí và thông tin tới thị trường châu Á 2,7 tỷ. Hopewell Holdings của Gordon Wu, giám sát việc xây dựng đường cao tốc chạy từ Hồng Kông đến Quảng Châu qua tỉnh Quảng Đông ở miền nam Trung Quốc.

Kể từ những năm 1970, sự giàu có ngày càng tăng của các cộng đồng Trung Quốc rõ ràng đã thúc đẩy mức đầu tư đáng kể xuyên biên giới quốc gia. Trên thực tế, chỉ riêng các khoản đầu tư xuyên biên giới đã chịu trách nhiệm biến mạng lưới thực tế của các mối quan hệ gia đình lỏng lẻo thành thịnh vượng chung của Trung Quốc ngày nay. Trong khi thị trường vốn vô hình hoặc không chính thức của gia đình, bạn bè và các chi nhánh gia tộc đang tăng lên, các cơ hội được cung cấp bởi các nguồn chính phủ và ngân hàng chính thức cũng tăng lên.

Ví dụ, Tập đoàn Charoen Pokphand của Thái Lan, một tập đoàn kinh doanh nông nghiệp do người gốc Hoa đứng đầu, là một trong những công ty đầu tiên đầu tư lớn vào Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. 
Hoặc lấy các quỹ phát triển do chính phủ Đài Loan hoặc Hiệp hội Ngọc bích Monte cung cấp, giúp tài trợ cho các liên doanh và khuyến khích dòng thông tin thị trường giữa các doanh nhân công nghệ cao nước ngoài và quê hương của họ.

Các doanh nhân Trung Quốc đã trở thành nguồn đầu tư nước ngoài nổi bật thứ nhất hoặc thứ hai tại các quốc gia như Thái Lan, Philippines và Việt Nam. 
Các liên kết doanh nhân này được rèn thông qua các mạng lưới rộng lớn của người gốc Hoa: Đài Loan đến Thái-Trung, Hồng Kông Trung Quốc đến Trung Quốc đại lục; Người Mỹ gốc Hoa sang người Việt gốc Hoa.

Trong số các doanh nhân mà tôi đã khảo sát, 52 % lưu ý rằng hơn một nửa mối quan hệ làm việc trong nước của họ là với Trung Quốc và 39 % mối quan hệ làm việc quốc tế của họ là với những người Trung Quốc khác, một tỷ lệ cao hơn nhiều so với mong đợi ở một công ty đa quốc gia. 
Nói chung, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cộng hòa Nhân dân báo cáo đã đạt hơn $ 30 tỷ, hầu hết trong số đó đến từ các doanh nhân Trung Quốc ở Hồng Kông và Đài Loan.

Nhưng quan trọng nhất đối với sự xuất hiện của khối thịnh vượng chung, các mô hình đầu tư này xuyên biên giới, được rèn qua các liên kết văn hóa, đã trở nên rõ ràng hơn. 
Ví dụ, phương tiện truyền thông phương Tây gần đây đã chú ý nhiều hơn đến người Hoa Hồng Kông xa xứ của Vancouver, người đã đầu tư đáng kể vào bất động sản và kinh doanh Canada để chuẩn bị cho Hồng Kông trở lại Trung Quốc vào năm 1997.

Tất nhiên, mạng lưới doanh nhân mà tôi gọi là thịnh vượng chung của Trung Quốc không phải là một nhóm lợi ích thống nhất hay quốc gia không chính thức. 
Đây là một câu nói cũ, người Trung Quốc giống như một vũng cát lỏng lẻo. các cộng đồng và các khả năng mới cho việc kinh doanh mà họ cung cấp vẫn đến với sự chắp vá toàn cầu của nhiều doanh nghiệp nhỏ, trong một số trường hợp, có rất ít hoặc không có sự tôn trọng hay tình yêu dành cho nhau.
Các doanh nhân được thúc đẩy chủ yếu bởi lợi ích kinh tế nói chung không để sự thù địch cá nhân cản trở các quyết định kinh doanh sắc sảo. Với các cơ hội kinh doanh quy mô lớn mới được tài trợ bởi tiền Trung Quốc, xuất hiện một loạt các trung gian tài chính mới. 
Mặc dù các nhà môi giới giao dịch bên ngoài, nhân viên ngân hàng và luật sư không được chào đón chính xác trong quỹ đạo của doanh nhân truyền thống, tuy nhiên họ vẫn là một phần và giao dịch của một giao dịch tài chính rộng lớn hơn.
Kinh doanh dựa trê chênh lệch giá, công nghệ...
Sự dư thừa vốn dẫn đến sự linh hoạt và di chuyển kinh doanh lớn hơn. Khả năng chuyển tiền tương đương với khả năng chuyển cờ công ty qua biên giới quốc gia. 
Thực hiện chuyển khoản như vậy dễ dàng hơn nhiều khi doanh nghiệp không bị ràng buộc với tài sản bất động. Do đó, doanh nhân người Trung Quốc, người vẫn có thể tin vào tầm quan trọng của hàng hóa hữu hình và một nhóm gia đình khép kín để quản lý họ, giờ đây, chính họ đã tìm thấy chính mình trong một mạng xã hội mở rộng, buôn bán tài sản vô hình.

Nhiều doanh nhân Trung Quốc ngày nay đã thực hiện thành công sự thay đổi từ vai trò của thương nhân trong một thị trường tương đối nhỏ sang quốc tế. Nói cách khác, họ đã chuyển từ quan điểm của những cá nhân bám vào một chiếc bè cứu sinh sang một cái nhìn từ trên cao xuống trong toàn bộ đại dương.

Theo định nghĩa thông thường về chênh lệch giá, các doanh nhân Trung Quốc đã nhanh chóng khai thác triệt để những bất thường về tài chính tại thị trường Trung Quốc. 
Rõ ràng, khối thịnh vượng chung của Trung Quốc bao gồm một loạt các tốc độ tăng trưởng khác nhau, tâm lý nhà đầu tư và cách tiếp cận để định giá. 
Các thị trường vốn đáng kể trong mạng lưới bao gồm Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Hoa Kỳ và gần đây nhất là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhưng mỗi thị trường này thường định giá tài sản theo những cách hoàn toàn khác nhau.

Ví dụ, ở đỉnh cao vào năm 1989, P/E của một cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán Đài Loan lớn hơn bảy lần so với PE trên SGDCK New York. Điều đó có nghĩa là một công ty Mỹ có chi nhánh tiếp thị và bán hàng được thành lập tại Đài Loan có thể, sau khi đáp ứng các yêu cầu về cư trú và quy định, công khai tại Đài Loan, từ đó huy động vốn rẻ.

Nhưng khi nói đến những cơ hội mới dành cho các doanh nhân trong khối thịnh vượng chung Trung Quốc, tôi muốn mở rộng định nghĩa nghiêm ngặt về chênh lệch giá. 
Với sức mạnh của mạng lưới doanh nhân, các doanh nhân Trung Quốc có vị trí tốt để tận dụng sự khác biệt của thị trường khác.
Chính vì quy mô và sự đa dạng của nó, thịnh vượng chung Trung Quốc hiện bao gồm những khác biệt cơ bản về chi phí lao động và thị trường sản phẩm. 
Với các mức độ phát triển công nghệ và tài nguyên khác nhau ở các quốc gia khác nhau, một kỹ sư từ Đài Loan có thể thành lập một công ty ở Thung lũng Silicon, sau đó thực hiện sản xuất chi phí thấp trên một hòn đảo Indonesia của Indonesia với sự tài trợ của Trung Quốc do chính phủ Singapore tổ chức.

Sự khác biệt về chi phí lao động, trên thực tế, mang đến một số cơ hội ấn tượng nhất. Ví dụ, sản xuất giày ở Đài Loan bắt đầu từ những năm 1950 như là một ngành sản xuất hàng hóa chi phí thấp, tận dụng chi phí lao động thấp của đất nước và đạo đức làm việc của Nho giáo để sản xuất giày giá rẻ như dép nhựa để xuất khẩu. Dần dần, các nhà sản xuất đã phát triển giày chạy bộ có giá cao hơn và các sản phẩm khác, và chi phí lao động bắt đầu tăng vọt ở Đài Loan.
Đồng thời, các liên kết kinh doanh được tạo ra giữa Đài Loan và TQ, không thông qua các kênh chính thức mà thông qua các cơ chế thị trường xám. 
Thông thường, một doanh nhân người Đài Loan giàu tiền mặt sẽ tạo ra một công ty tại Hồng Kông, sử dụng nó như một điểm trung chuyển hàng hóa và dịch vụ giữa Đài Loan và đại lục.
Sau đó, vào năm 1987, các công ty giày của Đài Loan đột nhiên bắt đầu chuyển hoạt động sang TQ. Thiết bị sản xuất đã được chuyển qua Hồng Kông đến đại lục và nhân viên chủ chốt từ Đài Loan cũng chuyển đến. Hiệp hội giày Đài Loan ước tính rằng có tới 80 % các công ty giày của Đài Loan đã chuyển đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để tìm kiếm lợi thế về chi phí lao động.

Một hình thức chênh lệch khác liên quan đến các xu hướng tiêu dùng khác nhau trong cộng đồng người Hoa. Chênh lệch tri thức là cầu nối các cộng đồng Trung Quốc ở các quốc gia khác nhau có thể liên kết sản phẩm với thị trường theo những cách sáng tạo. 
Ví dụ, Tập đoàn Quanta tại Đài Loan, một công ty hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh tiêu dùng, đã thành lập chính mình bằng cách đại diện cho các công ty phương Tây tại thị trường Trung Quốc. Dưới thời David và John Sun, hai anh em được giáo dục ở Hoa Kỳ, công ty đã mang các cửa hàng bán đồ của McDonald và Disney đến Đài Loan vào đầu những năm 1980.

Tất nhiên, trong nhiều khía cạnh, sự mở cửa chính trị của TQ hiện đại diện cho sự tùy tiện tối thượng đối với các doanh nhân trong khối thịnh vượng chung. 
Trung Quốc cung cấp một lượng lớn lao động chi phí thấp và tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác cho các quốc gia như Singapore, trong đó chi phí lao động tăng đều đặn và tài nguyên luôn bị hạn chế.

Và 1,1 tỷ dân số người tiêu dùng mới của Trung Quốc, những người ít tiếp cận với các sản phẩm bên ngoài trong nhiều thập kỷ, đang khao khát mua. Sức mua gần đây trên các gói mỹ phẩm Avon và các sản phẩm quang học Bausch & Ngành ở Cộng hòa Nhân dân chỉ là hai ví dụ về sự tập trung mạnh mẽ của người tiêu dùng.

Tất nhiên, liệu thay đổi xã hội có thể theo kịp với thay đổi kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc hay không vẫn còn được nhìn thấy. Đảng Cộng sản TQ vẫn kiểm soát bộ máy xã hội của đất nước và có số lượng thành viên khoảng 50 triệu người. 

Tương lai của sức mạnh thứ tư
Có một người Trung Quốc cổ đại nói rằng chú thỏ khôn ngoan có ba lỗ hang. 
Doanh nhân người Đài Loan Steve Tsai đã giải thích điều này có nghĩa là có một cơ sở kinh doanh tại TQ để đại diện cho tương lai, một ở Đài Loan để tận dụng hiện tại và một ở Hoa Kỳ để làm bảo hiểm. 
Ẩn dụ thỏ của Steve Tsai sắc sảo là một đại diện tốt cho cách các doanh nhân Trung Quốc nhìn thế giới ngày nay, vị trí của họ trong đó và cách họ vẫn có thể cần phải thay đổi. 
Kinh doanh giống như lái một chiếc xe hơi. Tại Hoa Kỳ, mọi thứ đều có quy tắc và quy định, và bạn chỉ cần tuân theo các quy tắc, và điều đó thật dễ dàng. Ở Đài Loan, ngay cả khi ánh sáng màu đỏ, ai đó có thể vượt qua nó. Nếu nó màu xanh lá cây, vẫn không có quy tắc nào để cho bạn biết cách đi.
Rõ ràng, những gì tôi đã gọi là thịnh vượng chung Trung Quốc không có cơ quan thanh toán chính thức để điều phối các liên doanh hoặc hoạt động như một cộng đồng kinh tế thống nhất. 
Singapore với cơ sở hạ tầng công nghệ tinh vi, Hồng Kông với thị trường vốn và cơ sở hạ tầng thương mại và Đài Loan với dự trữ ngoại hối đáng kinh ngạc là tất cả các trung tâm quyền lực lớn.
Bản thân các doanh nhân đã bắt đầu nhận ra sự thịnh vượng chung cho những gì nó là: một cơ sở quyền lực toàn cầu mới.
Đồng thời, khối thịnh vượng chung của Trung Quốc không còn là của Trung Quốc nữa. Bằng cách tham gia vào một mạng lưới kinh tế phổ biến như vậy, các đối tác tiềm năng của các doanh nhân Trung Quốc có thể không chỉ tiếp cận nhiều hơn đến các thị trường có trụ sở tại Trung Quốc với chi phí thấp hơn nhiều mà còn tiếp cận thị trường thế giới nói chung.
Các kết nối Đông-Tây như vậy sẽ đặc biệt quan trọng đối với các công ty vừa và nhỏ đang tìm kiếm các cách quốc tế hóa hiệu quả hơn bao giờ hết ở giai đoạn đầu trong quá trình phát triển của họ. 
Các doanh nhân Trung Quốc cũng có rất nhiều lợi ích từ các đối tác liên doanh bên ngoài, đặc biệt là các đối tác lớn: ví dụ, tên thương hiệu mới, thông tin thị trường và cơ cấu quản lý chuyên nghiệp.

Nhưng nghịch lý thay, sự phát triển liên tục của khối thịnh vượng chung phụ thuộc vào hầu hết các doanh nhân của nó tiếp tục lựa chọn mô hình quản lý doanh nghiệp nhỏ. Thông qua một mạng lưới toàn cầu, nhiều đơn vị nhỏ có thể đưa ra nhiều giải pháp ở mức độ rủi ro chấp nhận được. 
Trong khi các doanh nhân Trung Quốc đang chuyển sang mô hình quản lý mới, một mô hình khuyến khích sự phát triển và cởi mở với người ngoài khi doanh nghiệp sẵn sàng cất cánh, hầu hết các công ty Trung Quốc đều khuyến khích duy trì các tổ chức nhỏ, gia đình. 
Một xu hướng như vậy dựa một phần vào sự thiên vị văn hóa Trung Quốc và một phần dựa trên những gì hiện đang được đền đáp trên thế giới.

Nói cách khác, truyền thống Nho giáo làm việc chăm chỉ, tiết kiệm và tôn trọng mạng xã hội của một người có thể mang lại sự liên tục với bước ngoặt đúng đắn cho các thị trường thay đổi nhanh chóng ngày nay. 
Và câu hỏi chiến lược trung tâm cho tất cả các công ty đa quốc gia hiện tại là họ là người Trung Quốc, Nhật Bản hay Tây phương là làm thế nào để thu thập và tích hợp quyền lực thông qua nhiều đơn vị nhỏ. 
Sự phát triển của một mạng lưới các doanh nghiệp Trung Quốc tương đối nhỏ, bị ràng buộc bởi các liên kết văn hóa mạnh mẽ không thể phủ nhận, đưa ra một mô hình hoạt động cho tương lai.
(Một phiên bản của bài viết này đã xuất hiện trên tạp chí Harvard Business Review số tháng 3 năm 1993).


(Từ 1979-2003 FDI mà TQ nhận được là 500 tỷ usd, trong đó 65% từ Hongkong, Taiwan và Đông nam Á. Và giờ HK, TW đang bị TQ ép dữ dội).


Những gì chúng ta nghĩ về khi người Trung Quốc hiện nay bao gồm một loạt các hệ thống chính trị và kinh tế gắn kết với nhau bởi một truyền thống chung, không phải là địa lý. 
Trong nhiều thế hệ, các doanh nhân Trung Quốc di cư đã hoạt động thoải mái trong một mạng lưới gia đình và thị tộc, đặt nền móng cho các liên kết mạnh mẽ hơn giữa các doanh nghiệp xuyên biên giới quốc gia. 
Các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Trung Quốc ở Đông Á, Hoa Kỳ, Canada và thậm chí xa hơn đang ngày càng trở thành một phần của những gì tôi gọi là thịnh vượng chung của Trung Quốc .

Không có trụ sở tại bất kỳ một quốc gia hay lục địa nào, cộng đồng này chủ yếu là một mạng lưới các mối quan hệ kinh doanh. Từ nhà hàng đến bất động sản cho đến các nhà sản xuất sandal nhựa đến sản xuất chất bán dẫn từ một đội ngũ năm hoặc sáu thành viên gia đình đến một sàn nhà hàng ngàn người, cộng đồng Trung Quốc bao gồm nhiều doanh nghiệp riêng lẻ dù có chung một nền văn hóa.

Đó là loại mạng toàn cầu mà nhiều công ty đa quốc gia phương Tây đã cố gắng tạo ra trong các tổ chức của riêng họ. Bây giờ các công ty phương Tây tương tự đang chuẩn bị cho các đối tác liên doanh châu Á, tìm cách khai thác vào mạng lưới Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ. Đối với hầu hết các công ty đa quốc gia, có trụ sở ở châu Á hay không, đã đến lúc phải coi trọng cộng đồng.

Để bắt đầu, các quốc gia có nền kinh tế có trụ sở tại Trung Quốc có thặng dư vốn lớn đáng kinh ngạc. Đài Loan, một trong những quốc gia nhỏ nhất trên thế giới, có trữ lượng ngoại hối lớn nhất. Singapore, một đất nước có 2,7 triệu người, có dự trữ ngoại hối vượt $ 34 tỷ. 
Sau đó là thị trường vốn tư nhân và không chính thức của các hiệp hội gia đình và thị tộc Trung Quốc, trong đó nguồn tài chính được triển khai cho các hoạt động liên doanh mới mà không có sự can thiệp của các ngân hàng thương mại, công ty đầu tư mạo hiểm chuyên nghiệp hoặc cơ quan đầu tư của chính phủ.

Ngoài ra, mạng lưới doanh nhân Trung Quốc và Nhật Bản đại diện cho hai lực lượng hội nhập rất khác nhau ở châu Á. Không giống như người Nhật, thịnh vượng chung của Trung Quốc, giống kiến ​​trúc mở của Google 
về mặt máy tính. 
Nó thể hiện quyền truy cập vào các tài nguyên địa phương như thông tin, kết nối kinh doanh, nguyên liệu thô, chi phí lao động thấp và các hoạt động kinh doanh khác nhau trong nhiều môi trường khác nhau. 
Trái ngược với keiretsu của Nhật Bản , khối thịnh vượng chung mới nổi của Trung Quốc là một hệ thống mở liên kết nhưng có tiềm năng, và ở nhiều khía cạnh, cung cấp một cơ chế thị trường mới để tiến hành kinh doanh toàn cầu.

Do đó, giờ đây có thể tiếp cận thị trường tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thông qua các doanh nhân Trung Quốc tại Đài Loan. Người ngoài có thể có thể tiếp cận thị trường Đông Nam Á thông qua cộng đồng doanh nghiệp Hồng Kông và Singapore. Và cuối cùng, cả doanh nhân Trung Quốc và không phải người Trung Quốc có thể đến để tận dụng các cơ hội ở Bắc Mỹ và Châu Âu thông qua mạng lưới Trung Quốc ở các khu vực đó.

Tất nhiên, nhiều kết nối doanh nhân Trung Quốc này, tất nhiên, vẫn liên quan đến một vài người bên ngoài. Quy mô nhỏ truyền thống và định hướng gia đình của các doanh nghiệp Trung Quốc chắc chắn đã cản trở sự phát triển của họ.

Mô hình quản lý mới của Trung Quốc, giống như khối thịnh vượng chung, dựa trên cả các giá trị truyền thống của Trung Quốc và các tập quán phương Tây khuyến khích sự linh hoạt, đổi mới và đồng hóa của người ngoài. 
Sự thay đổi giá trị như vậy không chỉ có nghĩa là một sự thay đổi trong cách các doanh nhân Trung Quốc nhìn nhận bản thân và công việc của họ mà còn cả việc mở rộng mạng lưới mới nổi. 
Và theo thời gian, một hệ tư tưởng mới về lợi ích kinh tế, một hệ thống thực sự vượt qua chính trị và những hạn chế không rõ ràng đối với kinh doanh truyền thống của Trung Quốc, có thể dẫn đến sự hội nhập lớn hơn của cộng đồng.
Sức mạnh định hình của truyền thống Nho giáo
Trong hơn 2.000 năm, văn hóa Trung Quốc đã nhấn mạnh tầm quan trọng của trật tự xã hội. Từ thế kỷ thứ sáu đến thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, Khổng Tử đã mã hóa các mối quan hệ của cá nhân, gia đình và xã hội xác định vị trí và vị trí thích hợp của một người. 
Với lịch sử lâu dài của Trung Quốc về biến động chính trị, thiên tai, làn sóng di cư, và trên hết là sự khan hiếm kinh tế, những mối quan hệ được xác định rõ này thường giúp ngăn chặn sự hỗn loạn xã hội.

Dựa trên một nghiên cứu về tinh thần kinh doanh của Trung Quốc tôi đã thực hiện trong hai năm qua, trong đó nhóm nghiên cứu của tôi đã khảo sát hoặc phỏng vấn hơn 150 doanh nhân cả trong và ngoài Trung Quốc, rõ ràng truyền thống Nho giáo rất bền bỉ. 
Đối với hầu hết các doanh nhân Trung Quốc, được phương Tây hóa như họ có thể, doanh nghiệp vẫn là một phương tiện để thực hiện kiểm soát và để đạt được an ninh trong một thế giới rối loạn.

Các cuộc phỏng vấn nghiên cứu của tôi cho thấy một mô hình nhất quán về sự gián đoạn và khó khăn cá nhân, bao gồm mất đất nước, của cải, nhà cửa, hoặc một thành viên gia đình. 
Trong khảo sát của tôi, 90 % doanh nhân là người di cư thế hệ đầu tiên đã trải qua chiến tranh; 40 % đã trải qua một thảm họa chính trị như Cách mạng Văn hóa; 32 % đã mất một ngôi nhà; và 28 % đã vượt qua các thảm họa kinh tế dẫn đến mất mát tài sản đáng kể.

Ở Trung Quốc cổ đại, nông dân trong một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp tập trung vào các cơn bão, hạn hán và cào cào còn sót lại. Gần đây, kinh doanh đã trở thành một chìa khóa để tồn tại cho người di cư Trung Quốc, đặc biệt là trong cộng đồng người Hoa ở thế kỷ trước. 
Doanh nhân táo bạo làm việc nhiều giờ và tiết kiệm bất cứ nơi nào họ có thể, tích lũy vốn trong một thế giới mà họ vẫn cho là không an toàn.

Tâm lý sống sót này và truyền thống Nho giáo của chính quyền gia trưởng thông báo các giá trị của một doanh nhân điển hình người Trung Quốc, người tìm cách kiểm soát triều đại nhỏ của mình. Trên thực tế, lịch sử hỗn loạn chính trị và xã hội của Trung Quốc đã dẫn đến một thực tiễn không ngừng, có thể được tóm tắt trong các giá trị của cuộc sống:
- Tiết kiệm đảm bảo sự sống còn.
- Một mức tiết kiệm cao, thậm chí phi lý là mong muốn, bất kể các nhu cầu cần thiết.
- Làm việc chăm chỉ đến mức kiệt sức là cần thiết để tránh khỏi nhiều mối nguy hiểm hiện diện trong một thế giới không thể đoán trước.
- Những người duy nhất bạn có thể tin tưởng là gia đình và một doanh nghiệp kinh doanh được tạo ra như một chiếc bè cứu sinh.
- Phán quyết của một người họ hàng bất tài trong kinh doanh gia đình đáng tin cậy hơn so với người lạ có thẩm quyền.
- Sự vâng lời đối với quyền lực gia trưởng là điều cần thiết để duy trì sự gắn kết và định hướng cho doanh nghiệp.
- Đầu tư phải dựa trên mối quan hệ họ hàng hoặc dòng họ, không phải là nguyên tắc trừu tượng.
- Hàng hóa hữu hình như bất động sản, tài nguyên thiên nhiên và vàng miếng được ưa chuộng hơn các tài sản vô hình như chứng khoán thanh khoản hoặc sở hữu trí tuệ.
- Giữ túi của bạn đóng gói mọi lúc, ngày hay đêm (sẵn sàng trước rủi ro)

Những giá trị cơ bản này có thể chiếm một số lựa chọn kinh doanh nguyên mẫu nhất định của người Trung Quốc thế hệ đầu tiên: bất động sản, vận chuyển và xuất nhập khẩu. 
Các ngành công nghiệp như vậy thường yêu cầu một phạm vi kiểm soát hạn chế và có thể được quản lý hiệu quả bởi một nhóm nhỏ những người trong cuộc có thể là thành viên của cùng một gia đình. 
Ngay cả các doanh nghiệp Trung Quốc đã phát triển khá lớn cũng có xu hướng duy trì các mô hình tổ chức chưa trưởng thành, ví dụ như ban quản lý, người phát ngôn, xung quanh một người sáng lập mạnh mẽ, trung tâm hoặc một cấu trúc quản lý chỉ có hai lớp. Trong số các doanh nhân tôi đã khảo sát, 70 % lưu ý rằng họ vẫn hoạt động xung quanh một trong hai cấu trúc đơn giản này.

Trong các tổ chức đế quốc như vậy, các doanh nhân Trung Quốc quản lý các doanh nghiệp truyền thống giống như một hoàng đế Trung Quốc sẽ là đế chế của ông. Không có gì đáng ngạc nhiên, tài sản của doanh nghiệp thường chỉ được chuyển cho các thành viên gia đình. 
Các cuộc phỏng vấn nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng nhiều doanh nhân Trung Quốc vẫn coi các tổ chức đế quốc là yếu tố quyết định thành công của họ, bất kể tuổi tác hay bản sắc thế hệ của doanh nhân. Như một câu nói của người Trung Quốc xưa đã nói, Thà làm đầu gà còn hơn đuôi của một con bò lớn.

Người sáng lập của Formosa Nhựa tại Đài Loan, YC Wang, vẫn kiểm soát công ty hóa chất và nhựa thành công này, hiện đang sử dụng hơn 30.000 người. Wang chỉ đạo công ty thông qua một vòng tròn bên trong gồm ít hơn 10 người quản lý chuyên nghiệp không phải là thành viên gia đình. Đến lượt, những người điều hành này làm việc với một nhóm hành chính gồm khoảng 200 người quản lý khác.

Mục đích của nhóm hành chính này là chuyển kênh và chắt lọc thông tin vào một loạt các báo cáo hàng ngày, liên lạc với Wang hoặc trực tiếp hoặc bằng fax. 
Và con trai của Wang, một người quản lý hoạt động, chiếm một văn phòng sang trọng tại trụ sở công ty, giống như các hoàng tử trong một bộ máy quan liêu đế quốc sống ở các cánh khác nhau của cung điện.

Có rất nhiều ví dụ gần đây về sự thành công của đế chế. Con trai ông, ông Te Te Cheong, làm phó chủ tịch cách đây không lâu. Là những người sáng lập ban đầu như Li Ka Shing của Cheung Kong Holdings của Hồng Kông, Robert Kuok của khách sạn Shangri-La của Malaysia và các liên doanh khác, và Liêm Sioe Liong của Tập đoàn Salim của Indonesia sắp kết thúc sự nghiệp, kiểm soát các công ty toàn cầu này có thể sẽ vẫn còn trong tay gia đình.

Nhưng những khát vọng của triều đại có thể giải thích tại sao các công ty xuất hiện mang tính quốc tế như Phòng thí nghiệm Wang ở Lowell, Massachusetts vẫn duy trì một mô hình đế quốc tại cốt lõi của họ và thường sụp đổ. 
Fred Wang, người mà cha anh An Wang cuối cùng đã gọi là một người quản lý không đầy đủ, dường như khá có khả năng khi anh được thăng chức chủ tịch của Wang. Tuy nhiên, tập đoàn quản lý người Mỹ bao quanh Fred Wang đã không hoàn toàn chấp nhận quyền vốn có của mình để điều hành công ty.

Ở châu Á, các giám đốc điều hành trong một nhóm quản lý chuyên nghiệp sẽ chấp nhận một cách nghi ngờ một thành viên gia đình là lãnh đạo. Họ có thể đã tự hỏi nếu còn quá sớm để người đó đạt được quyền lực, nhưng họ sẽ không tranh cãi về việc thăng chức cơ bản. 
Tại phòng thí nghiệm Wang, sự khác biệt giá trị Đông-Tây như vậy đã dẫn đến nhiều xung đột bổ sung và góp phần vào sự suy giảm cuối cùng của công ty.

Dựa trên nghiên cứu của tôi, một người quản lý chuyên nghiệp không phải là người Trung Quốc không thể mong đợi cùng mức độ tin tưởng mà anh ấy hoặc cô ấy sẽ có như một thành viên gia đình trong công ty. 
Người ngoài cuộc không bao giờ có thể biết người trong gia đình cũng như họ biết nhau. Và các chuyên gia không phải là người Trung Quốc thường phải làm việc gấp đôi để hiểu được lý do của những quyết định nhất định.

Bất cứ ai thường xuyên giao dịch với các doanh nhân Trung Quốc thành công đều sớm nhận ra rằng trong khi 90 % quyết định của một doanh nhân nhất định có thể là tuyệt vời, thì 10 % còn lại thường không có ý nghĩa kinh doanh. 
Một doanh nhân Trung Quốc điển hình có thể giữ một người quản lý nghèo vì gia đình của anh ấy là; ngồi vào các quyết định liên quan đến người ngoài; che giấu thông tin vì cô ấy không phải là gia đình tránh các cuộc đối đầu cần thiết; và trong nhiều khía cạnh, cư xử đối với cấp dưới như một phụ huynh có lỗi.

Tuy nhiên, hầu hết nói rằng các tổ chức truyền thống đạt được tốc độ nhanh như thế nào khi họ mở rộng vượt quá giới hạn kiểm soát của gia đình. Trong một cuộc khảo sát Fortune năm 1990 về các doanh nghiệp Pacific Rim, chỉ có một doanh nghiệp Trung Quốc lọt vào danh sách top 150 dựa trên quy mô. 
Khi các công ty này bắt đầu phát triển, các công ước của doanh nghiệp truyền thống Trung Quốc, đặc biệt thận trọng đối với người ngoài, trở thành một bất lợi cạnh tranh rõ ràng.
Trong câu chuyện kinh điển về sự sụp đổ của triều đại Trung Quốc, một vị hoàng đế yếu đuối, cùng với một nhóm các nhà quản lý đế quốc yếu đuối, không thể làm hài lòng người dân và mất đi sự ủy thác của thiên đàng. một nhiệm vụ trần gian mới để thay đổi tổ chức