Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2019

Du lịch Cồn Sơn

30.11.20
Những cánh đồng miền trung Cuối tuần có việc đi Cam ranh.
 Rời khỏi vùng vườn sầu riêng Long khánh là tới rừng cây cao su (not tự nhiên) của Đồng nai. 
 Tiếp đến vùng đất đỏ, đất cát là những cánh đồng thanh long, cánh đồng nho, cánh đồng muối truyền thống Ninh thuận, Bình thuận. 
 Xen kẽ là những cánh đồng phi truyền thống điện gió, điện mặt trời trải dài vài km. Và chưa hết, nhà máy nhiệt điện Vĩnh tân mới tinh hứa hẹn sẽ có cánh đồng trữ than và xỉ than sau này. Trời mưa tầm tã, đường tối om vì không đèn. Sao không lắp đèn năng lượng mặt trời ở xứ năng lượng mặt trời nhỉ? 1 bên là núi Cam ranh bên bờ biển, 1 bên là dãy núi ngăn cách đồng bằng dài hẹp với Tây nguyên. Thể nào mà mưa nhiều, gió lớn, lốc các loại là 1 lý do cả phi đội bay đầy kinh nghiệm của Nga đã đâm vào núi khi bay từ singapore về căn cứ Cam ranh

08.11.20
Ao bà Om và chùa Âng 
 Ao bà Om to đẹp do đào thắng ông Òm. Giờ ao ông Òm cạn thành ruộng lúa. Bên cạnh đó là chùa Âng trước là cung vua bà Om cũng có 2 ao tượng trưng, 1 ao có nước còn 1 ao cạn khô tượng trưng cho tích này. Chùa Âng có từ tk10, thuộc hàng cổ nhất tỉnh. Sự tích ao đôi này ngoài bắc cũng có và cũng tượng trưng cho chế độ mẫu hệ. Các bà khoe thế thôi chớ đằng nào chả thắng, giờ vẫn thắng mà. Tỉnh Trà vinh nghèo nhưng trường ĐH rất cầu thị, hoạt động như doanh nghiệp theo style Tôn đức thắng nên rất khởi sắc, lương TS 40 triệu, tất nhiên cũng phải làm việc xứng đáng. 
 Đến chùa tuy xanh xanh đỏ đỏ cho con nhỏ nó mừng nhưng không khí vẫn là buồn, u tịch đúng kiểu khmer. Nếu có chỗ nào còn chưa đạt, nhếch nhác thì chính là bảo tàng di tích này. Có lẽ hoạt động theo kiểu bao cấp nên nó thế. Chả tương xứng với 1 nền văn minh từng rực rỡ 1 thời.
09.11.20

Câu như gái ngồi phải cọc là xuất xứ từ tích Tiên dung gặp Chử đồng tử?
Tiên dung công chúa giong thuyền dọc sông. Trời nóng nực mà bãi cát đẹp quá nàng bèn xuống bãi quây màn tắm cho mát mẻ. 
 Búi tóc lên nàng dội nước lên người thật đã. Rồi nàng ngồi xuống bãi cát cho thoải mái. 
 Tự nhiên lói 1 cái đờ cả đẫn. Hóa ra nàng ngồi lên đúng cọc của Chử đồng tử. Thật là như cọc sông Bạch đằng. 
 Từ ấy câu như gái ngồi phải cọc ra đời để đánh dấu ngày chàng nàng gặp nhau


4. Ông Huyện về quê


Ban ngày quan lớn như thần. Khi quan đang yên ổn thì tới nhờ vả, nịnh nọt nhưng hễ nghe quan sắp bị tội thì lại nhảy cẫng lên reo hò là đặc tính của người VN. Cũng vậy quan về quê thì cả làng cả nước xúm xít tới thăm, mỗi khi TV báo đài đưa hình ảnh lên là ồ à tự hào lắm. Người con quê tôi đó...nhưng coi chừng khi quan nghèo, quan không giúp gì được cho dân làng thì lập tức bị bỉ bôi chê, chế thành thơ ca hò vè chế giễu ngay. Về quê thì coi như đi không biết, ở không hay vì coi như ảnh vác có cặp dái khô về làng. Thật xấu hổLàm quan thời PK cũng có nhiều điều không sướng. 1 trong những điều đó là ổng không được làm quan ở quê nhà, không được lấy vợ nơi ổng trị nhậm...nên đây là 1 trong những lý do triều Nguyễn bị dìm sau này
Bài thơ kể chuyện ông Huyện về quê rất nổi tiếng vì lẽ xưa 1 người làm quan cả họ được nhờ, vợ cũng thơm lây võng anh đi trước võng nàng theo sau cho bõ những khi chưa thi đỗ chỉ là đồ ăn hại:
Ai ơi chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
Dĩ nhiên là dân làng phải phục dịch khiêng cáng chớ ai vô đây nữa và nha dịch phải làm cỗ bàn mừng quan. Lễ ngày xưa nó phải thế
Vậy mà thơ đánh cái đùng làm đời sau luận lung tung: 

Kể chuyện ông huyện về quê,
Có hai hòn ngọc kéo lê dọc đàng,
Bà huyện cứ tưởng hòn vàng,
Đánh trống đánh phách cả làng ra khênh.

Nào là ổng bị bệnh sa đì, vợ tưởng chồng giấu vàng trỏng giống như mấy ông nghiên cứu sinh đi LX xưa mặc tới 4 lớp quần jean kêu làng ra khiêng... Thực là sai quá đi.
Bài này thuộc dòng nói xấu quan huyện kiểu quan huyện thanh liêm.
Bạn biết dân gian mà, ai làm quan mà không giúp được cho làng, cho người làng thì họ khinh ra mặt. Ý là quan này chỉ có 2 hòn dái khô, chả có của nả chi mà bày đặt bắt làng đón rước, ghét cả cái con mụ vợ quan nỏ mồm.
Đó người ta phục dịch mà không giúp gì lại được là bị lưu danh như vậy đó.
Vậy nên làm quan thanh liêm thật khó do dân thấy quan nghèo thì khinh 

3. Tao đàn
Dạo này không đi đâu nên cứ thơ thẩn ở công viên Tao đàn. Sáng thấy cây này ngồ ngộ mới hỏi mấy chị em bên cạnh thì họ mím môi nói không biết. Biểu hiện vậy là họ nghĩ mình biết mà đi chọc họ đây. Đây cây, mời mọi người chộ:
(Nó là cây dứa dại, mà chị em cứ nghĩ mình nói lái)
Rồi đúng ngày 20.11, phát hiện ra con cá biểu tượng cho các nhà giáo: kiến thức nhiều, thậm chí cản trở cả tầm nhìn, nói nhiều nên môi phát triển và trên mình còn mang cả chữ. Tạm đặt là cá GS 
Cuối cùng, đi Tao đàn nhiều mới phát hiện ra dòng người đi bộ 99,99% đi ngược chiều kim đồng hồ. Không chỉ ở Tao đàn mà các công viên khác cũng thế, các bạn thử quan sát xem. Nói thế vì mấy hôm nay có 1 hotgirl đi xuôi chiều kim, rất kiêu hãnh và hấp dẫn.
Lý do đi ngược chiều kim do đa phần thuận tay phải nên bên phải nhỉnh hơn bên trái chút, do đó xoay về trái thì thuận chiều thoải mái hơn là khi cua phải.

2. Hôm qua giới thiệu về nhà vườn Nam bộ, hôm nay giới thiệu với bạn về vườn số. 
Trên mạng, tôi vẫn hay đọc bài của anh Trần Công Tâm. Nhớ 1 hôm khi bàn về tính cách người Việt, các ý kiến đa phần thiên về tính xấu. Anh nói 1 câu tôi nhớ mãi:


- Người thành đạt nhận ra ưu điểm của người khác, còn người thất bại nhận ngay ra nhược điểm.
Khi nhận ra nhược điểm là 1 luồng năng lượng tiêu cực nhen nhóm. Từ đó sinh ra nghi kỵ, lấn lướt, khinh nhờn không tôn trọng đối tác, đối phương. Như các cụ thường nói chân mình giây cứt bê bê lại cầm bó đuốc đi rê chân người.
Lần thứ 2 tôi đưa hình về nhà công chúa thứ 4 của vua Minh mạng trên đường Nguyễn Công Trứ Huế. 

Tôi bình: dấu xưa người ngựa hồn thu thảo ảnh sửa: Dấu xưa võng lọng hồn cây cỏ. Chỉ sửa vậy thôi, cũng là mượn thơ Bà huyện thanh quan mà lời bình đúng cảnh đúng mực ngay lập tức

Xin đưa bài của anh về danh dự quý tộc mà anh xứng đáng là 1 người trong đó (https://www.facebook.com/profile.php?id=100005025792996&epa=SEARCH_BOX)

TINH THẦN DANH DỰ QUÍ TỘC CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Chào các bạn thân mến. Trừ Nhật Bản, ở Châu Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng không có chế độ phong kiến bao gồm các lãnh chúa sở hữu điền trang thái ấp như ở Châu Âu. Từ thời Hồ Quí Ly, việc thi hành triệt để chính sách “hạn điền hạn nô” đã khiến cho tầng lớp quí tộc non trẻ nhà Trần đã biến mất hoàn toàn. Vì vậy, trong chế độ quân chủ chuyên chế ở Việt Nam, không có tầng lớp quí tộc kiểu Châu Âu, mà chỉ có tầng lớp thượng lưu.


Đồng thời cũng từ thời Hồ Quí Ly, việc tuyển chọn quan chức vào bộ máy chính quyền được tiến hành chặt chẽ thông qua những cuộc thi cử Nho học và khảo hạch các nhà khoa bảng. Từ đó, trong tầng lớp thượng lưu Việt Nam ngày xưa, chỉ còn lại các quan chức là những người làm công ăn lương, hưởng bổng lộc của triều đình, cùng một số vương thân quốc thích.

Nhìn chung vương thân quốc thích, quan chức của tất cả các vương triều Việt Nam cũng chỉ là những người hưởng bổng lộc rất khiêm tốn. Chẳng ai được phép có điền trang thái ấp, nông nô, tước quí tộc cũng chỉ tập ấm được 3 đời, mỗi đời giảm một trật.

Mặt khác cũng chẳng ai bắt họ phải có những truyền thống, qui tắc hành xử và sống chết vì danh dự, phẩm giá, như các nhà quí tộc Châu Âu. Bắt đầu từ thời nhà Lê “thái bình văn trị”, ở Thăng Long chỉ những ai không biết làm thơ (mà loại này thì thực là hiếm) mới cam tâm đi làm quan võ. Lời Thánh hiền dặn “Quân tử (thật, rỏm không quan trọng) động khẩu, không động thủ”, chính là câu nằm lòng của giới thượng lưu Thăng Long Đại Việt.

Tuy nhiên, trong giới thượng lưu vẫn có những người tiếp nối xuất sắc truyền thống thượng võ và “hào khí Thăng Long”. Hẳn là khi vào trấn thủ Thuận Hóa (và dự liệu công cuộc Nam Tiến), Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng, một võ tướng trưởng thành (34 tuổi) đã cân nhắc rất kỹ, khi chọn những giá trị Thăng Long nào xếp vào hành trang Nam Tiến của mình.

Thứ nhất, dứt khoát từ bỏ truyền thống hư học khoa bảng Thăng Long Lê Trịnh (học để làm quan), mà chọn trọng võ và đề cao thực học. Thứ hai, từ bỏ tư tưởng trọng nông ức thương Lê Trịnh, mà chọn khuyến khích thương mại, đặc biệt là ngoại thương. Đồng thời, tích cực học tập kinh nghiệm sản xuất hàng hóa để trao đổi buôn bán của người Hoa.

Thứ ba, chăm chú học tập, thừa kế kinh nghiệm và kỹ thuật hàng hải của người Chăm, xây dựng đội hải thương, hạm đội hùng mạnh. Thứ tư, từ bỏ Tống Nho độc tôn Thăng Long, chọn chấn hưng Phật Giáo, khuyến khích Phật Khổng Đạo đồng lưu như thời Lý Trần. Chủ động giao thoa văn hóa, kết giao và hòa huyết với người Chàm, Hoa, Khmer, Tây Nguyên, tạo nền tảng cho việc xây dựng một nền văn hóa mới đa nguyên, bao dung, dung nạp hơn.

Thứ năm, khác với cuộc chinh phạt Chiêm Thành đẫm máu năm 1471 của Lê Thánh Tông, nhờ những tiền đề ở trên và việc kết hợp các chính sách chính trị, kinh tế và quân sự khôn ngoan, cân bằng và hợp lý của Nguyễn Hoàng và các Chúa Nguyễn, mà cuộc Nam Tiến trên thực tế, là một cuộc di dân mở đất khá nhịp nhàng, ít xung đột.

Kết quả là cuộc Nam Tiến này đã diễn ra theo cách thức “di dân đi trước khai phá làm chủ đất đai trên thực tế, chính quyền đi sau định chế hóa lãnh thổ” và kết thúc bằng việc năm 1757, khu vực Nam Kỳ ngày nay được chính thức định hình trong cương giới Xứ Đàng Trong.

Trong lịch sử Việt Nam, nửa sau thế kỷ 18 là một giai đoạn đầy ắp những sự kiện “vật đổi sao dời” ở Đại Việt. Ở Xứ Đàng Trong, đó là nạn quyền thần Trương Phúc Loan (1765) và cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (1771), nhà Trịnh đưa quân vào Phú Xuân (1775), Nguyễn Nhạc lên ngôi vua (1778), Nguyễn Ánh xưng vương ở Gia Định (1780), quân Tây Sơn đánh thắng trận Rạch Gầm-Xoài Mút (1785) và đuổi được quân Xiêm ra khỏi Đại Việt, quân Tây Sơn chiếm lại Phú Xuân (1786), Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định (1787).

Trong khi đó ở Thăng Long, sau khi Trịnh Sâm chết (1782), kiêu binh Thanh Nghệ giết Quận Huy và tự chuyên lập Trịnh Khải thay Trịnh Cán, Nguyễn Hữu Chỉnh bỏ chạy vào Đàng Trong, “cõng” Nguyễn Huệ tiến quân ra Thăng Long (1786) “phù Lê diệt Trịnh”, Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2 dẹp Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm, Lê Chiêu Thống bỏ chạy sang China cầu viện nhà Thanh (1788).

Tiếp theo là Tôn Sỹ Nghị vào Thăng Long (1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế (1788) và đưa quân Tây Sơn ra Bắc đuổi quân Thanh ra khỏi Thăng Long (1789), Nguyễn Huệ thành lập nhà Tây Sơn từ Lạng Sơn đến Phú Yên (1789), và ông mất không lâu sau đó (1792).

Cuối cùng, là việc Võ Tánh đưa đạo quân 10.000 người của mình về hội quân với Nguyễn Ánh ở Nước Xoáy Sa Đéc (1788) làm thay đổi cục diện cuộc chiến Tây Sơn – Nhà Nguyễn. Từ đó quân Tây Sơn không bao giờ tiến quân vào Nam Kỳ được nữa.

Trong nửa cuối thế kỷ 18, cùng với những diễn tiến lịch sử khốc liệt ở Đại Việt, là sự đảo lộn ghê gớm các giá trị đạo đức tinh thần cốt lõi Khổng Nho. Tôi xin phép điểm lại một vài sự kiện tiêu biểu. Trước hết, là sự tha hóa của quan chức cuối thời các Chúa Nguyễn.

Theo Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục “… từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa – dây cương đều nạm vàng, nạm bạc, quần áo là lượt, nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau… Họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng…”.

Còn ở Thăng Long, thì đó là việc lộng hành (hay là văn hóa mõ lên ngôi) của chị em Đặng Thị Huệ. Chẳng hạn, Đặng Mậu Lân đã dám quây màn trướng ban ngày giữa phố để xâm hại đàn bà con gái, mà Trịnh Sâm vẫn phải làm thinh và nhận làm phò mã. Còn kiêu binh Thanh Nghệ không những dám lộng hành cướp phá phủ đệ của các quan, mà còn dám “phế Chúa Trịnh Cán, lập Chúa Trịnh Khải”.

Bản thân Lê Chiêu Thống cũng “quyết liệt trả thù” các Chúa Trịnh. Ông này cho người đốt Phủ Chúa, một công trình kiến trúc đẹp đẽ kỳ vỹ bậc nhất trong lịch sử Thăng Long, cháy đến hơn 10 ngày chưa tắt.

Nhưng điển hình nhất, có lẽ là câu chuyện về Nguyễn Khang học trò Lý Trần Quán. Được Lý Trần Quán nhờ coi sóc Trịnh Khải đang lẩn trốn quân Tây Sơn, Nguyễn Khang đã báo quân Tây Sơn bắt ông này. Khi bị Lý Trần Quán trách mắng, y đã phát biểu xanh rờn “Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu chúa không bằng yêu mình”.

Tuy nhiên, ở một bộ phận trong tầng lớp thượng lưu xã hội Việt Nam, tinh thần quí tộc bảo toàn danh dự và phẩm giá vẫn luôn được bảo tồn và truyền từ đời này, sang đời khác. Trong một số hoàn cảnh và thời điểm lịch sử nhất định, một vài cá nhân đã thể hiện tinh thần quí tộc bảo toàn danh dự này một cách mạnh mẽ. Nhờ vậy, những truyền thống này không bao giờ mất đi hoàn toàn.

Có thể nói, trường hợp tiêu biểu nhất của tinh thần quí tộc bảo toàn danh dự là Võ Tánh (1768-1801). Ông là một người xuất thân bình dân (con cháu các võ quan trung cấp nhà Nguyễn), về sau trở thành Đại Tướng của Nguyễn Ánh, giữ chức Chưởng Hậu quân, tước Quận Công. Ông cũng là Phò mã, chồng Công chúa Ngọc Du em gái Nguyễn Ánh.

Năm 1799, sau khi quân nhà Nguyễn do Võ Tánh thống lĩnh chiếm được thành Qui Nhơn của Tây Sơn, Nguyễn Ánh đổi tên thành là Bình Định và giao cho Võ Tánh cùng Lễ bộ tham tri Ngô Tùng Châu ở lại trấn giữ. Vì thành Qui Nhơn là đất phát tích của nhà Tây Sơn, nên Quang Toàn lập tức sai Thiếu phó Trần Quang Diệu mang hơn 45.000 quân bộ và Đại Tư đồ Võ Văn Dũng mang 24.000 thủy binh tìm cách giành lại.

Do lực lượng quá chênh lệch (quân nhà Nguyễn ở Qui Nhơn chỉ khoảng hơn 10.000 người), Võ Tánh đã quyết định đóng chặt cửa thành phòng thủ. Trần Quang Diệu đã cho quân đắp lũy vây chặt thành Qui Nhơn, còn Hạm đội của Võ Văn Dũng khóa chặt cửa biển Thị Nại Qui Nhơn.

Tuy Nguyễn Ánh và Lê Văn Duyệt đã đưa ngay quân ra giải vây Qui Nhơn, nhưng cuộc chiến kéo dài suốt năm 1799 không kết quả. Ngày 27/02/1801, trong một trận thủy chiến khốc liệt ở đầm Thị Nại (cũng là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam), thủy quân nhà Nguyễn do Lê Văn Duyệt chỉ huy đã tiêu diệt hầu như toàn bộ Hạm đội Tây Sơn của Võ Văn Dũng. Tuy nhiên Nguyễn Ánh và Lê Văn Duyệt vẫn không thể nào giải vây được thành Qui Nhơn.

Nhận thức được tình hình, Võ Tánh đã cử người đưa thư ra cho Nguyễn Ánh. Trong thư, ông khuyên Nguyễn Ánh nhân lúc binh lực Tây Sơn tập trung ở Qui Nhơn và hải quân Tây Sơn đã bị đánh tan, nên lập tức kéo quân đi đường biển ra đánh Phú Xuân. Nghe lời Võ Tánh, Nguyễn Ánh đưa quân ra Phú Xuân đánh Quang Toản và chiếm được Phú Xuân ngày 13/06/1801. Quang Toàn phải chạy ra Bắc Hà.

Sau khi thất bại trong việc đưa quân ra Phú Xuân cứu viện, Trần Quang Diệu dồn toàn lực tập trung ngày đêm đánh thành Qui Nhơn. Sau 14 tháng bị vây hãm, trong thành Qui Nhơn binh lương đã cạn, quân lính ốm đau nhiều. Cùng lúc đó, Võ Tánh lại nhận được tin Nguyễn Ánh đã chiếm được Phú Xuân và cuộc chiến 25 năm Tây Sơn - Nhà Nguyễn coi như đã ngã ngũ.

Võ Tánh quyết định không phá vây do lực lương quá chênh lệch, quân dân Qui Nhơn chắc chắn sẽ chết hết. Khi thuộc hạ khuyên Võ Tánh nên vượt vòng vây trốn thoát, ông nói "Không thể được. Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà hèn nhát trốn lấy một mình, thì sau này còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng?".

Sau khi bàn bạc với Ngô Tùng Châu, Võ Tánh quyết định mở cửa thành Qui Nhơn đầu hàng Trần Quang Diệu. Ông gửi cho Trần Quang Diệu một bức thư nói rằng sẽ mở cửa thành đầu hàng, nhưng thỉnh cầu Trần Quang Diệu không giết hại quân dân Qui Nhơn.

Sau khi biết chắc Trần Quang Diệu đã nhận được thư, Võ Tánh nói với Ngô Tùng Châu, là sẽ tự sát để bảo toàn khí tiết, và khuyên Ngô Tùng Châu không cần làm như ông, vì Ngô Tùng Châu là quan văn. Nhưng Ngô Tùng Châu không đồng ý, ông nói rằng văn võ có gì khác nhau, ông cũng sẽ tự sát để bảo toàn khí tiết.

Sau khi từ biệt Võ Tánh, Ngô Tùng Châu về nhà sửa mình, mặc lễ phục, rồi từ biệt gia quyến và uống thuốc độc tự vẫn. Còn Võ Tánh sau khi mặc lễ phục, đã lên Lầu Bát Giác chính điện thành Qui Nhơn sai quân chất rơm và củi khô, rắc thuốc súng, rồi bình thản ngồi châm lửa tự thiêu, đó là ngày 27/07/1801.

Khi vào được thành Qui Nhơn, Trần Quang Diệu tỏ ra rất xúc động trước sự trung dũng của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Ông sai người tẩm liệm chu đáo thi hài hai ông và chôn cất tử tế, rồi theo lời yêu cầu của Võ Tánh, và không giết hại hàng binh nhà Nguyễn.

Phải nói là ở thời điểm đó, việc Võ Tánh và Ngô Tùng Châu tuẫn tiết là một sự kiện rất đặc biệt, chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Ý nghĩa trực tiếp của sự kiện này, trước hết là việc hàng chục ngàn sinh mạng binh lính nhà Nguyễn được cứu thoát, trong đó có hàng ngàn con em Gò Công, đất phát tích của Võ Tánh.

Trong lịch sử 25 năm nội chiến Tây Sơn-Nguyễn Ánh, đã có không ít trường hợp quân tướng hai bên chạy sang hàng ngũ nhau. Châu Văn Tiếp, Nguyễn Văn Trương, Lê Chất các danh tướng của Nguyễn Ánh đều vốn là những hàng tướng Tây Sơn. Riêng Lê Chất về sau còn thay Võ Tánh làm Chưởng Hậu quân và thay Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc Hà.

Còn Chưởng Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức của Nguyễn Ánh, người theo Nguyễn Ánh từ ngày đầu khởi binh, từng bị Tây Sơn bắt làm tù binh, ông cũng đã từng làm tướng trong hàng ngũ Tây Sơn. Phải hơn 3 năm sau, Nguyễn Huỳnh Đức mới trốn được để quay về theo lại Nguyễn Ánh. Nghĩa là việc đầu hàng “phe địch” không phải là một biệt lệ.

Như vậy có thể nói, rằng Võ Tánh có ý thức rất đầy đủ về danh dự, phẩm giá và thân phận đặc biệt của mình. Trước hết, đó là thân phận của một người trước khi hội quân với Nguyễn Ánh (1788), đã từng “hùng cứ một phương”, chống lại cả Tây Sơn lẫn Nguyễn Ánh. Sau nữa, đó là thân phận cao quí của một Phò mã, một thành viên Hoàng tộc Vương triều Nguyễn. Ông không thể đầu hàng, không thể để mình trở thành tù binh và chịu nhục nhã.

Vì vậy, việc Võ Tánh quyết định tuẫn tiết để cứu sinh mạng quân dân Qui Nhơn, để bảo toàn danh dự, phẩm giá và tiết tháo của mình, là một hành động với đầy đủ nhận thức về trách nhiệm cá nhân. Hành động này đã trực tiếp tôn vinh sự chính danh, uy danh của Vương triều Nguyễn trong con mắt người dân Đại Việt khắp cả Nam Hà và Bắc Hà.

Cuối cùng phải nói rằng, việc tuẫn tiết của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đã góp phần nâng tầm vóc kẻ sỹ Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung lên một mức (chuẩn mực) mới, trong quan niệm về trách nhiệm, danh dự, phẩm giá, khí tiết và lòng trung thành.

Một chuẩn mực không những đúng với tinh thần Nho gia Việt Nam truyền thống, mà có lẽ còn hơn thế nhiều. Đó là một chuẩn mực về danh dự, phẩm giá, khí tiết, trách nhiệm và lòng trung thành, tương xứng với tinh thần quí tộc cao quí nhất ở bất cứ thời đại nào, trong bất cứ nền văn hóa và ở bất cứ quốc gia nào.

Đồng thời có thể nói, tinh thần quí tộc của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu là một giá trị không đổi của văn hóa Việt Nam. Trong thế kỷ 19, những người thừa kế xứng đáng giá trị này, là Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương và Phan Thanh Giản. Trong thế kỷ 20, đó là các tướng lĩnh đã tử tiết trong chiến tranh Việt Nam.

Tôi tin rằng, tên tuổi và sự nghiệp của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu sẽ không bao giờ bị quên lãng. Với thời gian, chắc chắn không chỉ người miền Nam, mà người Việt ở khắp mọi miền đất nước, sẽ biết đến tên tuổi và sự nghiệp của hai ông đầy đủ và trân trọng hơn.

PS. Cuối cùng, chúng ta có thể thấy một điều, rằng khác với cuộc chiến ý thức hệ Nam-Bắc (1954-1975) khốc liệt vừa qua, cuộc chiến Tây Sơn-Nhà Nguyễn (1777-1802) tuy cũng khốc liệt, nhưng là một cuộc chiến tranh giành quyền lực thuần túy giữa người Việt Nam với nhau.

Hai phe tham chiến chia sẻ cùng một hệ các giá trị, một điều chúng ta có thể dễ dàng nhận biết qua quan hệ giữa cặp danh tướng Võ Tánh và Trần Quang Diệu. Phải chăng nhờ vậy, mà trừ việc trả thù cá nhân của Nguyễn Ánh đối với nhà Tây Sơn, việc hòa giải hòa hợp hậu chiến giữa hai phe diễn ra khá thuận lợi . Về vấn đề này, tôi xin phép đề cập đến trong một bài viết riêng.



1. Trong bài viết trước tôi đã so sánh về nhà vườn Huế và nhà vườn Nam bộ. Khác biệt lớn nhất là nhà vườn Nam bộ chuyên về làm kinh tế.
Hôm nay giới thiệu với các bạn khu nhà vườn Cồn Sơn Cần thơ
Thường thì mọi người sẽ xuống Bình thủy để đi đò ngang qua Cồn sơn nhưng chúng tôi muốn kết hợp ngắm cảnh sông nước nên đi từ bến Ninh kiều.


Còn đây là cầu tình yêu ngày và đêm. Xưa bến Ninh kiều nổi tiếng về tình yêu tình báo nên cầu tình yêu chính là minh chứng cho truyền thống này

Đi chừng 30' thì ghé bè cá 7 Bon, bữa đó gặp ông chủ bè cá giới thiệu cho khách du lịch rất hăng say. Bè nuôi từ cá kiểng cá koi tới cá thát lát. Tới đây mới biết chả cá thát lát thuần là cá chớ không trộn với giò nên ăn dai và thơm hơn, dĩ nhiên là mắc hơn. Có cả cá hô nữa nhưng mới tầm 40 kg. 1 bè cá nuôi cũng giống như binh chủng hợp thành ví dụ cá ăn tầng mặt, tầng giữa tầng đáy, rồi có cá chuyên ăn rong rêu...dọn rác, có cá như cá he lại chuyên ăn phân của cá khác...


Lên Cồn, thứ nhìn vô biết ngay cùng là người nông dân bắc trung nam là lối đi hẹp giữa đất nước mênh mông
Cồn chủ yếu nuôi cá do lợi dụng nguồn nước sạch của sông. Có câu Cần thơ gạo trắng nước trong mà mùa này nước đục phù sa không. Dân đây làm nhà vườn thế nên giàu có 
Như thường lệ vô nhà vườn xem cá lóc bay, vườn bưởi...không đi coi chôm chôm, nhãn vì không phải mùa
Quên chưa giới thiệu cá bắn nước. Nó dài chưa tới gang tay mà bắn hạ ruồi muỗi côn trùng bay ngang bằng cách phóng tia nước cỡ 1m, phóng chán, cậu sốt ruột phóng lên tớp mồi
Sau khi lội bộ chừng 4,5km. Vô nhà vườn kiếm chỗ ăn trưa. Nằm võng gặp bà cụ 92 tuổi đi qua cho trái bưởi ăn thử rồi khoe chiều đi Trà vinh ăn cưới. Ăn xong nằm ngủ giữa tiếng gà tiếng chim. Lâu lắm mới có giấc ngủ say giữa thiên nhiên trong lành như vậy.

 Ra về, gặp mưa lớn mới thấy sông rộng và dài, đò hư thả trôi chừng 15' thì nổ máy lại chạy phăm phăm về bến Ninh kiều

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

Cội rễ

11. Sợ 
 Có 1 cậu rất có uy. Vợ con đang nô giỡn trong nhà mà nghe tiếng xe về là tất cả tản ra, ai vào việc nấy rất trật tự. Cậu ta bảo mình áp dụng 2 nguyên tắc: 
- Vợ có thể tự kinh doanh nhưng không cho đi làm ở công sở 
 - Không đưa vợ con tới nhà bạn giàu hơn chơi. Theo bạn vì sao?

10. Mùa xuân gọi 
Nhiều người nói rằng Tết hay mùa xuân cũng chỉ là 1 thời điểm do con người đánh dấu chớ không có khác biệt gì. Hồi trẻ nghe mấy ông này nói tin sái cổ nhưng sau thấy sai sai. Giống nhau thì sao mùa xuân cây trổ bông, lá non bừng dậy tốt tươi. con người thì vào mùa tình yêu, yêu đời hơn, rạo rực hơn. Chỉ nhìn duy lý mà bỏ qua bản năng sinh học của thiên nhiên, của con người là lỗi hay mắc phải trước khi tâm lý học về hành vi ra đời

9. Lập thân hèn nhất ấy văn chương


Trước nay cứ nghĩ do nhà văn nhà thơ cảm thán chuyện viết văn thơ đầy rủi ro nên thốt ra câu đó. Khi đụng húy, khi chạm vô cấm kỵ, rồi nay đúng mai sai...100 hoa đua nở rất dễ bị bứng.
Hóa ra cái hèn nữa là lấy văn thơ để tiến thân. Giống như BT Trương Minh Tuấn đứng chủ biên sách phòng chống diễn biến hòa bình. 
Sách nói 1 đằng ổng làm 1 nẻo, thúi hoắc mà không biết ổng viết mấy trang.
Hay Xã Xệ in liền mấy cuốn sách chứng gà chứng lộn mà xệ có viết chữ nào đâu, toàn lính làm không, tiền in sách thì có nhà tài trợ. 
Hèn nhục là chỗ đó đó, chỉ khác là Xệ chưa bị lộ như ông trên kia.
   
8. Về nhà hỏi trẻ

Nhiều người tin sái cổ câu đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ. Nói con trẻ luôn nói thật, luôn thật thà, chúng là những thiên thần bé bỏng chứ không gian dối, dục vọng thấp hèn như người lớn.
Tuy nhiên đó là 1 sự ngộ nhận. Có đứa nói dối nói xạo là bản năng như Cuội, có đứa lại dấu diếm vì bị nguy hiểm, vì sợ...và có đứa thì đơn giản bị người lớn lừa như người thiếu phụ Nam xương chồng đi lính cứ chỉ vô bóng mình nói ba đó.
Tới khi chồng về thật, anh chàng nhớ nên hỏi con liền. Kết quả vợ bị đòn oan sml.

7. Chả thà nói với đầu gối


Thỉnh thoảng nói với bạn mà mình không hiểu ý họ thì thường nghe làm bèm:
Nói với mày chẳng thà tao vạch đầu gối ra nói còn hơn.
Ý là nói với mày vô ích đấy. 
Thế tại sao lại so sánh với đầu gối mà không phải là nói với khuỷu tay chẳng hạn?
Vì thói quen người Việt ngồi thường đầu gối quá tai? Chắc vậy rồi nhưng có lẽ người mình rất coi trọng đầu gối, thần thánh hóa nó là đằng khác vì nồi cao hổ cốt mà mất cái bánh chè thì coi như mất giá trị hay ăn nhậu thì rất khoái mấy cái cẳng cái chân chỗ gần đầu gối.
Khi trẻ, hiếu động chạy té trầy đầu gối đứng lên chạy tiếp. Khi lớn tối tối đầu gối lâm trận mà nhớ cho rằng xưa làm gì có nệm. Rồi có tuổi đầu gối long xòng xọc báo hiệu trên bảo dưới không nghe ngược với hồi trẻ thằng nhỏ xúi thằng lớn...
Tóm lại dân ta vừa thích vừa ghét thằng đầu gối vì luôn nói không nghe. 

6. Mặt trời mặt trăng


Chúng ta thường nghe 2 vợ chồng nhà ấy, trưởng phó cơ quan ấy như mặt trăng mặt trời. Điều ấy có nghĩa là 2 người không hạp nhau, xung khắc với nhau như nước với lửa. Vậy trong thực tế thì quan hệ mặt trăng mặt trời với trái đất như thế nào?
Mặt trời cung cấp năng lượng cho sự sống trên trái đất, có thể nói không có mặt trời thì trái đất không có sự sống và trái đất là hành tinh quay quanh mặt trời.
Mặt trăng tuy nhỏ, quay xung quanh trái đất. Tuy nhỏ nhưng do gần nên ảnh hưởng trực tiếp tới thời tiết, thủy triều trên trái đất.
Do ảnh hưởng của mặt trăng quan trọng như vậy mà các cụ đã sáng chế ra lịch âm dựa trên sự chuyển động của mặt trăng.
Lịch này rất đúng, đắc dụng trong làm nông nghiệp. Thừa thắng xông lên các cụ mặc nhiên coi trái đất là trung tâm, vẫn rất ổn cho xã hội nông nghiệp.
Từ địa tâm này mà thuyết âm dương, ngũ hành, kinh dịch, thiên địa nhân ra đời giải thích rất nhất quán nhân sinh quan Khổng giáo.
Đó là phương Đông. Bên phương Tây sau 1 thời gian lại thấy lịch tính theo mặt trời chính xác hơn nên liền áp dụng, tới nay được 2019 năm.
Dùng lịch mặt trời mà vẫn theo thuyết địa tâm thì dần dà mâu thuẫn xuất hiện, lỗ hổng ngày càng lớn và phải thừa nhận nhật tâm là đúng đắn hơn. Như vậy dân Tây khi làm nông nghiệp vẫn khoái lang thang bằng thuyền trên biển.
Đi như vậy mới phát hiện ra trái đất tròn và quay xung quanh mặt trời. Nói thêm chút đây chính là toán đã đưa Tây thoát khỏi nên kinh tế nông nghiệp, còn các cụ thì chỉ ở mức100 trâu ăn trăm bó cỏ.
Quay lại nói chuyện con người. Con người cũng vậy, có 2 phần lý trí và phi lý trí giống như mặt trời mặt trăng. Những kiến thức ta thu lượm thì giống mặt trời mà truyền thống bản năng trong người lại như mặt trăng. Diều này giải thích tại sao nước nghèo lạc hậu rất khó rũ bỏ sự lạc hậu của mình.
Các thuyết kinh tế xã hội trước kia hầu như mô phỏng lý thuyết về vật lý tức là theo mô hình duy lý. Từ những năm 80 lại đây thì các nhà kinh tế lại quay lại tái phát minh ra mặt trăng-phi lý trí.
Có thể nói đây chỉ là hành động lấp đầy mà không phải đột phá. Những hoạt động mới như tiền số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo...cần 1 lối giải thích mới hơn về lý thuyết kinh tế.
Mạt trăng mặt trời cũng có thể áp dụng trong đời sống hàng ngày ví dụ như bạn coi trưởng phòng, giám đốc ai là mặt trăng, ai là mặt trời. Đúng thì ok, trật thì mệt.
Hay quan hệ quốc tế, các cường quốc Mỹ TQ, ai sun ai moon. Hay chặc lưỡi quan xa bản nha gần, muốn thuần nông hay muốn CNH...
  
5. Kỹ thuật thiền định
03.09.20
Sáng chở con đi dợt khai giảng nên làm vài vòng Tao đàn. Xong, như thường lệ là mấy phút thiền định với cây cổ thụ. Bài hôm nay là thải độc.
Ngồi thẳng lưng, nhắm mắt hóa thân vô cây cổ thụ. Tưởng tượng thân mình như gốc cây vững chãi, người lơ lửng trên cao ngang tán cây.
Hít vào làn khí tươi chảy ào ào vô đỉnh đầu. Thở ra khí đen xì xì như bus Samco, nhớ hóp bụng cho khí ra hết. Vài lượt thở ra khí loãng dần lợn cợn sủi bong bóng như nước cống. Thêm vài lượt nữa cho tới khi thở ra thấy khí trong bình thường và trên đầu bắt đầu xuất hiện cầu vồng ngũ sắc là bài tập hoàn thành.
Thu người ra khỏi cây, mở mắt và nhìn thấy bãi cỏ sáng lên, ngọn cỏ non tươi dưới nắng.
Chào 1 ngày mới

Mình như chiếc lá
Sáng bạn chọn 1 chiếc lá dịu dàng đơn giản không rang cưa hay hình phức tạp màu xanh nhẹ nhàng như lá trầu bà chẳng hạn rồi ngồi thẳng lung, bỏ chân tự nhiên không cần chú ý vô xếp bằng và hít thở tự nhiên. Chú ý mọi thứ đều tự nhiên, không phải ráng cố.
Trời xanh mây trắng, yên tĩnh, gió thoảng người vắng. Bắt đầu nhìn vô lá cây và tưởng tượng mình chui vô lá, nhập vô lá. Mắt khép hờ hay hé là tùy bạn, sao cho thoải mái là được. 1 lúc sau bạn sẽ thấy người mềm dần ra, tươi mát. Cứ mềm ra thế rồi không nhận ra chiếc lá nữa vì mình với lá giờ là 1, óc trống rỗng không còn tạp niệm.
Người cảm thấy lâng lâng và năng lượng bên ngoài bắt đầu nhập vô bạn, người thì cảm thấy qua da, người thì qua đầu hay mặt…đồng thời năng lượng tích cực trong người bạn cũng sẽ tỏa ra, tỏa ra.
Vài phút qua đi, hãy hướng chú ý lại vô chiếc lá và thoát ra khỏi nó, vài phút nhập thiền kiểu thôi mien hoàn thành. Người nhẹ nhàng, tâm trí sảng khoái, thơ thới. Dậy bước đi cảm giác đỉnh đầu như được treo, thật giống sư phụ Trương Tam Phong mô tả trong Thái cực quyền luận.
Hãy luôn nhớ: không cố thì sẽ được.     


Chúng ta thường nghe có đặt mình vào vị trí của đối phương thì mới hiểu họ nghĩ gì, hiểu được thấu đáo sự việc để giải quyết có tình có lý hay là win win cho cả 2 bên. Với ích lợi như thế hôm nay xin giới thiệu với các bạn 1 kỹ thuật trong thiền định gọi là nhập thân vào đối tượng.
Gồm các bước sau:
- Chọn đối tượng: thoạt tiên chọn đối tượng dễ, đơn giản, sẵn có và trực quan. Có thể chọn bông hoa, cây, chim...nhưng không nên chọn heo hay chó hoặc gà vì tuy dễ nhưng thoát thân ra khó, khi kỹ thuật chưa cao bị ảnh hưởng nặng.
Đó là tại sao nhiều người tham ăn hiếu sắc và nổ như bom là do dấu vết của mấy con vật kia.
Riêng tôi chọn chai rượu Macallan 12Y, màu đẹp vị thơm chớ không chọn vodka trong vắt vì màu buồn và dễ chìm sâu vô trong biển nước.
- Chuẩn bị: hít vô sâu, thở ra chậm rãi. Nam 7 lần nữ 9 lần. Những con số mặc định cổ xưa này sẽ giúp ta đạt hiệu quả không ngờ.
- Nhập tâm vô đối tượng: tập trung nhìn đối tượng, trong vòng 1 phút sẽ thấy thân mình nóng lên, người tỏa hương thơm, lâng lâng như uống rượu thật 
- Duy trì cảm giác: mới tập thì khi đạt cảm giác mình là chai rượu, người lâng lâng là đạt
- Thoát: hít thở sâu, mở mắt. Xả cảm giác thơm và say bồng bềnh ra. Khi mới tập đừng cố nhập tâm sâu quá, khó thoát ra
- Điều hòa: như thường lệ, thở như pha chuẩn bị.   
Chúc các bạn thành công.

4. Không thể trì hoãn sự sung sướng

Là câu nói thành danh của Chu Văn Quềnh. Nhưng câu nói này có bao nhiêu % sự thật?
Trong Tâm lý học hài hước của R.Wiseman có đưa ra thống kê là nam giới có xu hướng qua đời vào tuần trước sinh nhật của mình và phụ nữ thì thường qua đời vào tuần sau sinh nhật.
Nếu coi sinh nhật là 1 cột mốc thì nam giới không vượt qua được và phụ nữ thì kiên nhẫn vượt qua.
Nên câu nói không thể trì hoãn sự sung sướng đúng là của nam, họ không nhịn được, không đợi được. Trong đời sống tình dục cũng tương tự, nam thì hay bị XTS là 1 thực tế.
Đó là nói về người thường, còn những tinh hoa thì khác. Họ có thể dùng ý chí cầm cự được tới ngày họ mong muốn.
Vd như Mỹ có tổng thống John Adams, Thomas Jefferson và James Monroe, tất cả đều qua đời ngày 4 tháng 7. CT HCM cũng qua đời đúng ngày quốc khánh 2 tháng 9.

3. Bắt rễ


Trong cải cách ruộng đất long trời lở đất thì thành viên đội cải cách (nhất đội nhì giời) về làng chọn nhà nào nghèo khổ nhất, bần cố nông nhất vận động họ đấu tố địa chủ. Nói chung cứ giàu là vô tầm ngắm nên trí phú địa hào là dính. Sau khi bần cố nông đồng ý đấu tố (gọi là bắt rễ) thì tập hợp những người, những nhà này lại (gọi là xâu chuỗi) thành lực lượng đấu tố chính.
Trong thời kỳ này, ai không tố điêu thực sự là anh hùng.   


2. Cắt rễ
Hôm trước nói về cội rễ, hôm nay bàn về chuyện cắt rễ.
Vô vườn cậu bạn thấy 2 cây sầu đâu. 1 cây trưởng thành, lớn trồng trong vườn và 1 cây cao chưa tới gang tay, trồng trong chậu. Bạn bảo cả 2 cây này trồng 1 ngày cách nay hơn 10 năm rồi đó.
Cây sầu đâu, ngoài bắc là cây xoan các thi sĩ hay ngắm như Nguyễn Bính:

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy


Và Du Tử Lê khóc trên ngọn tình sầu cho mối tình không thành vì thành kiến phân biệt bắc nam:
Người trông ngóng hương đưa mùi mái tóc đêm mưa
Nhẹ theo lá oan khiên lả tả mái hiên người


Thấy tôi có vẻ không tin bạn bảo tất cả bí mật trồng bonsai chỉ ở cắt rễ mà thôi. Chậu tôi trồng thủng đáy, cứ rễ ra là tôi cắt nên giờ 10 năm cao có 15cm à.
Hóa ra trồng bonsai cũng hơi giống trồng người. Nhỏ thì bị ép theo ý người lớn, đi học thì theo ý thầy cô.
Hẳn các bạn nhớ ngày mới đi làm, vụng về, hăm hở và nhiệt huyết. Đề xuất ý cải tiến công việc, 1 lần, 2 lần...đều bị bác, vài năm sau đa số trở thành nhân viên thụ động, chỉ đâu đánh đó vì mọc rễ nào ra là bị cấp trên trực tiếp cắt rễ í đó.

Có sếp ghê hơn kiểu Xã xệ ghét ai thì còn cắt hết rễ luôn, tức là chơi đòn cô lập bạn với tất cả mọi người. Có cậu bị cắt rễ tới mức hoang tưởng nhẹ luôn mang nước ở nhà đi uống, không dám uống nước chỗ làm.
Đó chiêu cắt rễ ghê gớm thế, phía sau 1 vườn bonsai càng lớn thì tội phá hoại tư nhiên cắt rễ càng nhiều. 

Như trường hợp thứ trưởng Lê Hải An vừa rồi. Bình thường thì 1 sếp cỡ đó lúc nào cũng có người xúm xít chung quanh. Vậy mà khi ở tầng 8 uống cafe lại chỉ 1 mình. Phải chăng đó là áp lực cắt rễ?




1. Cội rễ

Cội rễ do Alex Haley viết. Niềm khắc khoải khôn nguôi về cội nguồn đã thôi thúc ông bỏ ra mười lăm năm để tìm lại gốc gác tổ tông.
Và kết quả cuộc tìm kiếm lâu dài ấy đã dẫn đến sự ra đời của “Cội rễ”. Chỉ hai tháng sau, gần một triệu bản đã hết ngay. Và bộ phim vô tuyến truyền hình dựng theo tác phẩm ấy đã vượt cả bộ phim nổi tiếng “Cuốn theo chiều gió” về kỷ lục người xem.
Cuốn sách ra đời như một sự kiện làm chấn động cả nước Mỹ. Đó là sự tái tạo một quá khứ, khi mà những người da đen bị bắt cóc và bị bán làm nô lệ, bị tước đoạt. “Cội rễ” đã làm dấy lên ở Mỹ, kể cả trong những người da trắng một trào lưu sôi nổi tìm lại gốc gác tổ tiên của mình.
Nó đã đánh thức ở những người da màu Mỹ nỗi niềm hoài cổ tổ tiên, và ý thức đó từ nay sẽ không bao giờ tắt trong họ.
Haley đã bỏ ra mười lăm năm trời mò mẫm trong hầu hết các thư viện, kho lưu trữ tư liệu khắp nước Mỹ, từ bang này sang bang khác, để cuối cùng tìm đến tận làng Jufure hẻo lánh của Zambia (châu Phi), nơi cách đây hơn 230 năm, Kunta Kinte, ông tổ 7 đời của tác giả đã bị bắt xuống con tàu buôn nô lệ da đen chở sang Mỹ. 

Với “Cội rễ” có thể nói Alex Haley đã dựng một tượng đài cho nỗi đau hàng thế kỷ của bao thế hệ người Phi bị trốc rễ, tìm lại gốc rễ của mình.

Quan trọng hơn, với ý thức cội nguồn mạnh mẽ như vậy là nguồn sáng cho nền văn hóa da màu. Họ đã gìn giữ và phát triển dòng nhạc Jazz, nhạc Phúc âm trở nên nổi tiếng và lan đi khắp thế giới.
Giờ nhìn lại VN, ca nhạc dân tộc từ chèo, quan họ, nhã nhạc cung đình, cải lương dần phôi pha nhỉ. Không biết bao giờ người Việt chợt nhớ rồi khám phá lại cội rễ của mình.  

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2019

Chùa và nhà vườn Huế

10.03.21

Con đường nam tiến 
 Từ Thanh hóa chúa Nguyễn hoàng đã làm nên con đường nam tiến ngoạn mục, mở rộng bờ cõi VN lên như ngày nay. Vậy quê hương nhà chúa có gì, kinh đô Huế có những công trình nào, vùng ngũ Quảng đóng vai trò thế nào trong công cuộc Nam tiến. Thiết nghĩ ngày nay chúng ta cần làm rõ lại hành trình này, con đường nam tiến này để hiểu rõ hơn về những giá trị cha ông đã tạo dựng để chúng ta xây đắp thêm. 
Sau 2 năm covid ngành du lịch bị ảnh hưởng nặng nề. 1 trong những cách phục hồi du lịch là tái dựng lại con đường nam tiến di sản này nhằm kết nối các giá trị lịch sử như Thanh hóa là điểm khởi đầu, Huế là trung tâm và ngũ Quảng như năm cánh hoa nâng đỡ. 
 Trước khi giới thiệu vùng quê chúa Nguyễn xin giới thiệu về cố đô Huế

16.12
Tỉnh Thừa Thiên Huế xác định sẽ xây dựng và phát triển TP Huế trở thành đô thị di sản - thành phố trực thuộc Trung ương theo hướng "Di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan, thân thiện với môi trường".

(https://vnexpress.net/thoi-su/dien-mao-tp-hue-khi-mo-rong-3988099.html)

Thực ra 3 ý đầu là đủ, nhưng truyền thống vẽ rắn thêm chân nên thêm cho đủ 5

Để làm điều đó, Huế dự tính mở rộng gấp 5. Ý đồ rất rõ là lấy quỹ đất để phục vụ bảo tồn, phục dựng di sản đây. Ý kiến này đương nhiên là thắng thế ở VN. Nhưng đổi đất lấy cơ sở hạ tầng sẽ dẫn tới vô số hệ lụy, cứ nhìn các địa phương đi trước như TP.HCM, Khánh hòa, Đà nẵng... thì thấy.

Một hướng khác đa dạng và an toàn hơn là thành lập quỹ di sản, gọi vốn trong và ngoài nước.

Nói tới di sản là nói tới con người, vậy cần định hướng về giáo dục, y tế. Tôi nhớ không lầm là Huế trước 1975 là trung tâm y tế, giáo dục. Phát triển lại được cũng là 1 cách bảo tồn. Đừng như Vinh, thời Pháp là 1 trung tâm công nghiệp của miền trung. Giờ mất hẳn, chả lấy lại được.

Và 1 nét khác biệt của Huế mà có lẽ hiếm thấy. Đó là tại Huế thời Nguyễn Nho giáo phát triển song song với Phật giáo chớ không như lẽ thường là Nho lên Phật xuống.

Vậy di sản không chỉ có kiến trúc vật chất mà còn phải có hồn cốt của di sản, đối với Huế chính là tôn giáo.
Quanh đây có những cố đô bảo tồn rất đẹp như Kyoto Gyeongju sao không học tập họ.


6. Em ở xứ Chàm mây trắng lắm 
Anh có bao giờ thôi nhớ thương 
Đi du lịch bao giờ bạn cũng muốn thăm được những cảnh đẹp và thường không được như ý. Điều này do sự cưỡi ngựa xem hoa mà ra. Xin chia sẻ 1 số kinh nghiệm:
- Tìm hiểu trước những địa điểm chùa, nhà vườn mà mình tính đi
- Có đủ thời gian, đừng vội vàng
- Đi với bạn cùng sở thích, nếu bạn rành rẽ càng tốt
- Khám phá những nét tổng thể như lịch sử, văn hóa, con người, kiến trúc, sự tích...
- Tìm hiểu kỹ hơn về những nét, khía cạnh mình thích. So sánh nó với những nơi khác
- Tham quan với sự thơ thới, vui vẻ

5. Rú chá
Cách Huế chừng 15 km bên bờ phá Tam giang. Tới mới biết rú đây nghĩa là em của rừng: rừng rú ngoài nghĩ rú đồi.
Tới Rú chá mong nhìn thấy lá vàng mùa thu mà anh đi rừng chưa thay lá, anh về rừng lá trút mất tiêu nhưng bù lại rừng giống như bắc Âu mùa tuyết 



Lên trên tháp nhìn cảnh phá Tam giang

Đường vô xưa rễ cây đan vấn vít khó đi, nay làm đường xi măng, tiện cho khách du lịch và nuôi tôm nhưng đánh mất vẻ hoang sơ


Rừng đẹp nhưng rác bắt đầu nhiều. Sao không thu phí ít nhất cho đủ cho dọn rác. Kiểu này nuôi tôm thắng thế du lịch 
................


4. Chùa Huyền không sơn thượng: địa điểm du lịch tâm linh với 2 khu vực thiền định
Thường chùa là nơi thích hợp cho việc thiền định. Nền kinh tế thị trường tạo nên các tiện nghi vật chất tối ưu cho nhân loại, đồng thời nó mang đến không biết bao nhiêu căn bệnh và hiểm họa về tinh thần, tác động đến toàn bộ tâm sinh lý của con người mà không có thuốc thang nào có thể chữa trị được. 
Thiền định và thiền tuệ giúp con người ổn định tâm sinh lý, điều hòa âm dương thủy hỏa (tâm bình, khí hòa), làm lắng dịu, tiêu tan phiền lụy, đau khổ và mọi căn bệnh nguy khốn của thời đại.
Nơi đây, núi rừng bao bọc – có chừng 22 ha thông nhựa (chương trình PAM), chùa tự ươm trồng 20ha keo lá tràm, keo tai tượng, keo lai; và chừng 5 – 7 ha là giữ lại cây rừng tự nhiên rất phong phú chủng loại; nhiều dáng cây và nhiều sắc lá đan xen khá ngoạn mục. Bên trong có một thung lũng, được gọi là “thung lũng treo”, rộng chừng 3,7 ha – dành cho không gian chùa viện và vườn cảnh. Nhờ cây rừng trồng, cây rừng tự nhiên và lớp cây thực bì che phủ đất; lại còn nhờ có 5 hồ nước – gần 1ha – điều hòa khí hậu nên rừng cảnh luôn luôn xanh tươi, ôn hòa, dễ chịu… Mùa đông, bao giờ cũng lạnh hơn Huế chừng 2-3oC; mùa hè, lúc nóng nhất cũng chỉ có 34-35oC. 
Nhờ đặc điểm sinh thái ấy nên hệ thực vật và hệ động vật được duy trì gần với tự nhiên. Bây giờ, cây rừng đã khép tán, màu xanh bạt ngàn, tàn cao bóng lớn – tạo nên một môi trường thiên nhiên mát mẻ và trong lành. Như vậy khu rừng rất thích hợp cho việc thiền định.



Đắm mình trong âm thanh dịu ngọt của rừng núi, sự thực tập nổi tiếng được biết như là “tắm núi rừng,” là hiệu quả thấy được đối với sự thư giãn hơn là sử dụng ứng dụng thiền, theo một nghiên cứu mới được hỗ trợ bởi tổ chức National Trust của Anh Quốc cho thấy.
Theo các kết quả của nghiên cứu, đã đo lường các lần phản ứng và những đáp ứng hành vi tiếp theo với kích thích cảm giác, hòa mình vào âm thanh của thiên nhiên rừng núi đưa đến kết quả cải thiện đáng kể trong việc thư giãn, với 30% gia tăng cảm giác thư giãn trong số những người tham gia cuộc nghiên cứu, so với không có thay đổi nào đối những người nghe ứng dụng thiền có tiếng.
“Tiếng giòn của cành cây gãy dưới chân. Tiếng chim hót trên cành. Tiếng xào xạc của cây cối trong gió. Tiếng núi rừng đã được chứng minh là có ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi của chúng ta, làm cho chúng ta thêm thư giãn,” theo National Trust cho biết trong thông báo về nghiên cứu.

Nguyễn Trãi từng ngồi thiền ở Côn sơn:
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn...




Khu vực thiền thứ 2 chính là nhà chùa. Chùa theo phái Nam tông với lối kiến trúc lai giữa đình và nhà rường, đơn giản và mới, không giống như chùa cổ Từ hiếu


và còn hơi giống kiến trúc Nhật


Trong chùa chính chỉ thờ Phật tổ Như lai chớ không bài trí hàng hàng lớp lớp tượng như chùa ngoài bắc

Việc thờ đơn giản giúp cho chính điện chứa được đông đảo thiện nam tín nữ.
Điểm đặc biệt nữa là câu đối, hoành phi, bảng đều ghi chữ Việt nhưng hơi khó đọc vì viết theo lối phạn vì trụ trì là người hay chữ
nên vẫn phải ghi ra chữ Việt thường
Và điều khác biệt nữa chùa không hề có hòm công đức mà nhận tài trợ theo mô hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật (ngoại viện) và sinh hoạt tâm linh tu chứng (nội viện).
Và như vậy Huyền không sơn thượng hướng tới mô hình du lịch tâm linh, thiền viện cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu xả stress nhờ việc thiết kế được 1 địa điểm 2 tầng thiền định.
 3. Nhà vườn An hiên
Nhà vườn An hiên nằm ở Kim long. Kim long là nơi tập trung nhiều nhà vườn nhất ở Huế hiện nay (khoảng 800 với diện tích từ 1k đến 8k m2 và 65 nhà rường).
Kim long gần như là 1 cù lao với sông Hương, sông Kim long và Bạch yến bồi đắp phù sa nên đất rất màu mỡ. Xưa vua nhà Nguyễn chọn đất này làm nơi ở cho hoàng tộc và các quan nên nơi ở rất rộng rãi.



Đất màu mỡ, người thanh lịch nên vùng này nổi tiếng nhiều gái đẹp:
Kim long có gái mỹ miều
Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi
Trước khi tới An hiên chúng tôi ghé Phú mộng, con đường cổ xưa với nhà vườn 2 bên đường.


(đường Phú mộng)
Dọc đường nhiều nhà vườn đã mở quán nhậu, homestay...nhà vườn chúng tôi ghé của cựu CT phường rộng 1.8k m2 mở quán cafe Highland và quán nhậu choán gần hết đất vườn xưa. Ông cho biết nhà bên đường 1.4k m2 vừa bán 8 tỷ cho khách HN, giờ đất cao giá nên không còn hàng chè tàu làm hàng rào vườn nữa.
Thu nhập của nhà vườn cũng là vấn đề khó nghĩ trong bảo tồn nhà vườn, ham quá thì như vườn phố, giữ nguyên thì đói tốn nác rác nhà.
Vườn An hiên nằm ngay trên bờ sông Hương rộng chừng 4.5k m2. Theo nhiều tài liệu, An Hiên đã trải qua nhiều chủ nhân, kể từ thời công chúa thứ 18 con vua Dục Đức và các hoàng thân, giới thượng lưu thì bà Đào Thị Xuân Yến là người gắn bó lâu đời với với mảnh vườn này. Đồng thời, bà cũng chính là người chăm sóc, giữ gìn cẩn thận toàn vẹn kiến trúc cũng như các loài cây nơi đây mãi đến khi bà qua đời.


(nhà vườn nhìn ra sông Hương)
Cổng nhà vườn định danh phận chủ nhân, cổng càng đẹp, càng uy nghiêm thì thân phận càng cao. Cổng chính là đầu rồng trong bố cục trục dọc của nhà vườn theo dáng con rồng: cao-thấp-cao-thấp


Cổng An hiên cổ kính với lối vô lát gạch tàu ở vị thế cao. Chúng ta chú ý trục dọc chia vườn làm 2 phần cân xứng. Theo chiều sâu thì nhà vườn cũng được chia làm 3 phần tiền, trung, hậu cân xứng.
(Ở Huế không thấy mô hình tứ hợp viên, có lẽ do đất không đủ rộng)
Lối vào đáng lẽ lót gạch tàu thì chủ mới thay bằng đá xanh, sái cách. 


(Đường vô ở vị thế thấp)
Đường chính dẫn tới bình phong xây. Bình phong thường xây, có khi bằng đá, hoặc hòn non bộ, thậm chí bằng chè tàu


Bình phong xây thấp, theo phong thủy ngăn khí độc, năng lượng xấu xộc thẳng vô nhà. Người ngoài nhìn vô không thấy gia chủ nhưng bên trong nhìn ra vẫn thấy khác. Khách phải đi vòng sang bên mới vô được nhà. Tư thế chủ nhà ở trong vị trí phòng thủ. Có lẽ truyền thống anh hùng Núp xuất hiện từ đây chăng? 
Ở đây nhà vườn mới thu tiền vé 35k.
Bình phong này cũng tượng trưng cho núi Ngự bình.


Sau bình phong trồng bông và cây thuốc gia đình, bày đỉnh. 
Vô sau là hồ nước cạn thả sen súng tượng trưng cho sông Hương 



Vậy là kiến trúc vườn Huế mô phỏng sông Hương núi Ngự thu nhỏ. Đây là điểm khác với vườn bonsai Nhật thu nhỏ cây là đặc trưng. Còn Thanh long, bạch hổ thường ước lệ là giếng nước, khóm cây.
Có lẽ đây cũng là nguồn gốc của câu:
Sông không sâu, núi không cao
Trai thì đa trá, gái thì đa dâm
 (dài quá, dừng ở đây, hôm sau viết tiếp)

Nhà chính 3 gian 2 chái. Bên phải vuông góc với nhà chính là nhà ngang. Nhà ngang này dùng làm bếp, nơi ở người giúp việc...mới xây sau này nên không đưa hình vô đây. Bước vô nhà chính ta phải từ từ vì nhà có ngạch cửa.
Ngạch cửa ngoài tác dụng chắn bụi còn nhắc chủ nhà đi đứng khoan thai từ tốn và khách mắt nhìn xuống vừa tránh vấp vừa là tôn trọng chủ nhà.


Gian giữa trước thờ Phật, gian sau thờ ông bà. Có nhiều hoành phi, câu đối khảm xà cừ rất đẹp nhưng vì là chữ tàu nên ngó vậy chớ không hiểu nghĩa


Gian bên phải nữ ở, có bàn trang điểm cho các bà các cô


Bên tay trái là phòng cho nam, có bộ sập cẩn đá Vân nam cho các ông nằm hút thoải mái


Vậy nam tả nữ hữu tức nam bên trái gái bên phải từ đâu mà có?
Theo Tây thì tay trái dắt người đẹp, tay phải sẵn sàng tuốt kiếm chơi lại thằng nào định giành giật sàm sỡ vợ, bạn gái, con gái...
Còn phương Đông thì bắt nguồn từ thuyết âm dương. Các cụ quan niệm mọi thứ được chia 2 thành dương và âm. Dương thì mạnh mẽ, âm mềm mại ví dụ dương: mặt trời, ban ngày, nam...âm là mặt trăng, đêm, nữ...
Tới đây mọi việc có vẻ hợp lý. Chúng ta biết theo Khổng trọng nam khinh nữ nên đương nhiên cái gì tốt quân tử các cụ giành cho nam, còn phụ thuộc tiểu nhân giành cho nữ.
Ai cũng vậy thôi, được đặc quyền là vơ vào, nghiễm nhiên hưởng thụ, cấm có bỏ kể cả những ông hô to nam nữ bình quyền.
Các cụ chọn nam tay trái vì gần tim, người phương đông trọng tình nghĩa, mà tim tượng trưng cho tình cảm, gần tim là ưu tiên hơn nữ rõ ràng rồi. 
Các cụ tính khôn nhưng lại không biết toán thống kê, thuận tay trái chỉ chiếm 10% tức là thiểu số. Được quyền chọn mà lại chọn theo thiểu số là thua rồi. Cho nên đàn ông phương đông, triết lý phương đông mới mang tính âm nhiều dù do đực rựa phát triển. Vậy đó, ở đời ăn nhau là chọn quẹo trái hay quẹo phải.
Có bạn hỏi theo trục dọc thì cổng là đầu rồng, vậy đít rồng có phải là WC của nhà vườn không?
Nhà xưa thường làm WC cách xa nhà chính do mùi. Rồng là con vật linh thiêng nên wc sẽ đặt chếch phía sau, không nằm đầu hướng gió. Giờ toàn xài toilet khép kín nên không biết chuyện này mới đặt bãi rác Đa phước ngay đầu hướng gió. Thế là ôi thôi, đêm đêm ngửi mùi hương.


Nói tới vườn là phải nói tới cây cối hoa lá, vậy vườn Huế trồng cây gì nuôi con gì.
Vườn miền nam rõ ràng trồng cây ăn trái như nhãn, măng cụt, xoài, sầu riêng...để bán, tức là vườn để làm kinh tế. Khách tham quan du lịch có thể hái ăn, mua mang về. Vườn bonsai Nhật thì cây được trồng thu nhỏ kết hợp với đá, suối nhân tạo, cá koi thành cảnh quan nghệ thuật, khách tới tham quan chiêm ngưỡng, mua cây, cá, dự nghi lễ trà đạo...
Vườn Huế thì thỏa mãn chủ nhà là chính, có trồng rau để ăn hàng ngày, trồng bông để cho cúng giỗ, trồng cây ăn trái nào mà chủ nhà thích, thấy ngon...thể nào chẳng đưa ra thuyết bế quan tỏa cảng.
Như mai Huế cũng phải chọn loại ra lộc xanh mướt chớ không ngả sắc đỏ như mai Nam bộ, rồi măng cụt Huế ăn ngon cả hột nhưng nghe nói thế chơ tôi cũng chưa được ăn bao giờ


(măng cụt Huế)
Với đặc trưng vườn như thế nên khó lấy tiền từ khách du lịch. Như vườn An hiên thuộc hàng số 1 thì ngoài thu vé vào cổng 35k còn biểu diễn ca cổ Huế nhưng chỉ lấy tiền tip ngoài ra không còn sản phẩm nào bán được cho du khách.


Mỗi vườn có 1 lịch sử, 1 đặc trưng riêng, nếu không có hướng dẫn giải thích thì khách đi 1 vòng chừng 30 phút là hết. Sao không kể chuyện nhà vườn của mình in thành sách, tờ bướm, postcard...đẹp để làm kỷ niệm.
Nhật có trà đạo, Huế có trà cung đình, ẩm thực cung đình...tóm lại nhà vườn Huế cần liên kết trong tour và đa dạng hóa sản phẩm để bán được hàng, thu hút khách du lịch chớ nếu tình trạng ít khách thì sẽ rất khó bảo tồn mà dễ biến tướng.
Thời nay mọi người mới thấy khu nhà vườn Kim long là đạt tiêu chuẩn sống cao, rộng rãi, trong lành hữu tình...sau vài trăm năm thì người Việt lại có cơ hội mon men chạm tới mức tiêu chuẩn cao như thế về cuộc sống, và làn sóng đổi chủ sở hữu đang diễn ra hàng ngày.
Chắc vài năm nữa thôi kiến trúc nhà vườn Huế sẽ lan ra các địa phương khác, do nhu cầu của lớp siêu giàu ngày càng nhiều. 
Nhân nói chuyện về bđs mới nhớ tới kiến trúc nhà vườn Huế, nơi lưu giữ truyền thống của các cụ. Nhà tuân theo nguyên tắc trái Thanh long, hữu Bạch hổ. Trước cửa nhà là bình phong chắn, rồi trước là bến sông sau có thế dựa lưng và nhà quyền quí còn tuân thủ qui tắc trục dọc với cửa cổng là miệng rồng. 
Xoay qua nhìn cách bố trí nhân sự của Bao công thấy y chang. Tả hữu Trương long, Triệu hổ bình phong là võ Triển chiêu văn Công tôn sách che cho ngôi nhà Bao chửng. Bao thanh thiên lên nghiệp lớn vì trước nhà thông thương trong lành, sau lưng có thượng phương bảo kiếm làm chỗ dựa. Vậy đó, ngày xưa các cụ thiết kế hệ thống rất nhất quán và tinh vi. Trải qua vật đổi sao dời giờ con cháu không hiểu chê bai tùm lum
Như vậy bây giờ tứ trụ cũng theo truyền thống này.
Xưa làm việc chi từ xây dựng, tổ chức, dùng người...đều theo nguyên tắc âm dương, ngũ hành và thiên địa nhân. Tức là hướng tới sự cân bằng hòa hợp sinh thiện.


2. Huế buổi tối
Huế hồi trước buổi tối buồn hiu. Lần này nghĩ chả có gì chơi nên quyết định đi thuyền trên sông Hương như 1 khách du lịch chính hiệu. 
KS tôi ở gần Đập đá nên rất tiện, ra bến tòa Khâm chừng 5 phút.
Tòa Khâm đẹp thế, biểu tượng quyền lực mà Huế lại chọn làm ĐH Sư phạm, thật là đúng style Tố Hữu. Vàng thì không lụm lại đi nhặt từng tí phân rơi.
100k cho 1h thuyền rồng có ca Huế, nghe hấp dẫn. Ra thuyền mới biết không vé, khoảng 50 người ngồi ghế nhựa trên thuyền thả trôi gần cầu Tràng tiền nghe ca Huế, mà toàn tân nhạc kiểu Huế thương do ban nhạc cấp khu phố biểu diễn...không à. Có ông nào nói VN có sở trường biến những thứ cao siêu, tinh tế,...tất tần tật thành bình dân xô bồ thật đúng.


(nhạc công xinh trai phết nhỉ)

Hơi buồn cười, nhưng không sao đã có phố đi bộ vui vẻ. Thành phố giờ có phố đi bộ buổi tối thật tiện cho du khách và thanh niên Huế, xứng danh con cháu Trịnh Công Sơn, rất có khiếu nghệ thuật, ca hát.
Đầu đường là ban nhạc rock người tây


cuối đường ban nhạc người Việt nhưng hát nhạc tây



Hát rất hay nên tôi chọn chỗ ngồi và mua 1 chai huda 15k. Dần dần khách đông, mấy em bé chừng trên dưới 10 tuổi ra khiêu vũ sôi nổi. Mọi người vòng trong vòng ngoài, cho tiền...kém gì phố Tây.
Thật vui và may vì vừa về tới nhà trời đổ mưa tầm tã, mà mới 11h à.
Huế thu hút được khách Tây chính vì có những di sản hoàng cung, lăng tẩm và nghệ thuật ca hát này đây, còn khách TQ hiếm, có lẽ vì bên họ đã có Tử cấm thành.
...................



Đợt rồi ra Huế rất may gặp được đôi vợ chồng trẻ KTS xứ Huế. 2 người đã thật nhiệt tình tận tâm dẫn tôi đi thăm chùa và nhà vườn Huế.
Với 1 người ngoại đạo như tôi nếu có thăm thú mấy nơi này chủ yếu do sự tò mò là chính chớ thực ra là chuồn chuồn hớp nước vì khó thấy những cái riêng khác, độc đáo. Những cái mà thường chỉ con mắt nhà nghề mới nhận thấy và trình bày 1 cách rõ ràng ra được.

Giờ tôi thuật lại hành trình khám phá chùa và nhà vườn Huế trong tour 2 ngày để khỏi bỏ phí công mà 2 bạn đã bỏ ra làm hướng dẫn viên.

1. Chùa Từ hiếu hay còn gọi là chùa Thái giám, chùa quan hoạn


Thái giám là những người được tuyển chọn vô nội cung để hầu hạ. Gần gũi vua nên quyền lực lớn, tiền nhiều mà lại không có con nối dõi nên vua đã cho phép họ lập chùa, nhận con nuôi để có nơi thừa tự về sau.
Thái giám được tuyển từ những người có bô phận sinh dục nhỏ ẩn khiếm khuyết hoặc thiến. Những người chưa thiến tới khi dậy thì phải kiểm tra lại để quyết định xem có cần thiến hay không. Nghiêm ngặt vô cùng, giống như là rà soát bằng cấp của cán bộ lãnh đạo ngày nay vậy.
Sau khi thiến thì phải cho vô bình nhỏ cất trữ, tới kỳ kiểm tra phải trình ra và khi chết thì chôn theo để trả cho thân xác nguyên vẹn đặng luân hồi kiếp sau.

Rất nhiều hoạn quan thành công
Ví dụ như Lý Thường Kiệt, danh tướng gắn liền với Nam quốc sơn hà nam đế cư. Rồi Tào Tung là cha nuôi Tào Tháo. Nhà Nguyễn có tả quân Lê Văn Duyệt.
Tướng Hoàng ngũ phúc nhà Trịnh cũng là hoạn quan. Viết binh thư dâng chúa nên chúa cho làm tướng. Phúc lo vì chưa đánh trận bao giờ may có thầy tàu bày cho vay 1k lạng bạc tuyển dũng sĩ. Kết quả mĩ mãn, từ trận ấy ông đánh nam dẹp bắc


Chùa Từ Hiếu nằm khuất trong một rừng thông trên một vùng đồi của phường Thủy Xuân. Khuôn viên chùa rộng chừng 8 mẫu, phía trước có khe nước uốn quanh, phong cảnh thơ mộng.
Trước cổng chùa có ngôi tháp cao 3 tầng được xây dựng vào năm 1896 dùng làm nơi tàng trữ kinh tượng theo sắc chỉ của nhà vua. 
Cổng chùa được xây theo kiểu vòm cuốn, hai tầng có mái che và ngay trước con đường lát gạch để vào chánh điện là một hồ bán nguyệt trồng sen và nuôi cá cảnh. 

Cấu trúc chùa theo kiểu ba căn hai chái, trước là chính điện thờ Phật, sau là Quảng Hiếu Đường. Ở khu nhà hậu có án thờ Tả quân đô thống Lê Văn Duyệt cùng con ngựa gỗ và thanh đại đao của ông.

Hai bên sân chùa có hai lầu bia để ghi lịch sử xây dựng chùa. Chùa được xây theo kiểu chữ khẩu (口), chính điện ba căn, hai chái, phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ. 
Nhà hậu là Quảng Hiếu đường, ở giữa thờ đức thánh quan, bên trái thờ hương linh phật tử tại gia, bên phải thờ các vị Thái giám..., bên tả sân hậu là Tả Lạc Thiên (nhà tăng) và bên hữu là Hữu Ái Nhật (nhà khách).
Xung quanh ngôi chùa Từ Hiếu còn có khá nhiều lăng mộ các vị phi tần của các chúa Nguyễn.

Hiện nay chùa đang được làm lại mới hoàn toàn vì nhà rường gỗ cũ bị mối mọt xuống cấp quá nhiều. Thoạt tiên chùa làm hoàn toàn bằng gỗ, sau vách gỗ hư được thay bằng gạch xưa. 
(Gạch xưa)
Nay thì thay mới toàn bộ, vậy là chùa chính kiến trúc xưa không còn mà được xây mới phỏng theo. 
(Nghệ thuật khảm sành sứ Huế)
(cái này cũng sẽ được làm mới)
Việc bảo tồn di tích đứng trước những khó khăn:
Nếu phục chế thì chi phí cao, công việc tỉ mẩn, lâu và thiếu cả thợ có tay nghề. Tuy nhiên theo tôi có lẽ tư duy xóa bài làm lại mới là quan trọng nhất. Làm mới vừa dễ vừa nhanh bóng bẩy hoành tráng hơn chùa xưa, chỉ có cái hồn là mất đi. Không biết bao giờ người VN mới bỏ được tính có mới nới cũ và biết trân trọng di tích thì tình trạng phá cũ xây nhái mới may ra chấm dứt được.
(thay mới toàn bộ)
Chùa Từ hiếu cũng nổi bật bởi những tác phẩm khảm sành sứ Huế. Những họa tiết, hình long lân được khảm giống kiểu mosaic sống động.
Nghệ thuật khảm cẩn của VN đại khái được chia thành đồ gỗ, tranh, bình, vật dụng...khảm xà cừ (cẩn ốc), tranh sơn mài cẩn vỏ trứng và khảm sành sứ Huế cho tranh trường và những họa tiết trang trí ngoài trời là 1 nét độc đáo, đẹp và chịu được mưa gió nắng nôi.
Kiến trúc chùa, lăng mộ Huế đặc biệt phù hợp với lối xây xong không bảo trì mà để mặc rêu phong cho tôn nét cổ kính của người VN (Phạm Quỳnh)



Và đây là cổng vô lăng mộ của vị hòa thượng trụ trì chùa đầu tiên. Trừ cổng chính giành cho cúng tế thì người thường đi 2 cổng bên, thấp nên khi đi vô phải cúi đầu biểu thị tôn kính người đã khuất