Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

Nguồn gốc khủng hoảng & chu kỳ Minsky

http://bhdl.blogspot.com/2012_05_01_archive.html

Hyman Philip Minsky sinh ngày 23/9/1919 mất ngày 24/10/1996 là một nhà kinh tế học người Mỹ và là giáo sư kinh tế đại học Washington tại St. Louis. Giống như Keynes, những nghiên cứu của ông tập trung chủ yếu vào chu kỳ kinh tế trong đó nhấn mạnh đến khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế nhưng ông không có được may mắn được giới học thuật và nghiên cứu biết đến nhiều lúc còn sống như John Maynard Keynes, một nhà kinh tế gia nổi tiếng mà ông chịu ảnh hưởng.

Giống như Keynes, những nghiên cứu của Minsky cố gắng cung cấp sự hiểu biết và giải thích về đặc tính của các cuộc khủng hoảng tài chính, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới suy thoái kinh tế. Ông giúp độc giả tìm lại những tư tưởng của Keynes đã bị nhiều nhà quên lãng.

Cũng như như Keynes, công chúng chỉ nhớ đến ông mỗi khi khủng hoảng tài chính diễn ra, đặc biệt khi khủng hoảng tài chính 2008 diễn ra, ông được nhắc đến như một nhà kinh tế học nổi tiếng, đã cung cấp một hình để giải thích sự sụp đổ của các thị trường tài chính.

Trong thời gian khủng hoảng tài chính 2008 diễn ra, tạp chí kinh tế The Economist khảo sát 50 nhà kinh tế uy tín xem ai là nhà kinh tế có ảnh hưởng nhất trong thập kỷ vừa qua thì ông được xếp thứ 3 còn Keynes xếp thứ 2 sau Bernanke, thống đốc ngân hàng trung ương Mỹ.

Minsky được sinh ra trong một gia đình di cư Menshevik từ Belarus tại Chicago, Illinois. Mẹ của ông, bà Dora Zakon hoạt động trong phong trào thương mại công đoàn còn cha ông hoạt động trong nhóm Do Thái của đảng Xã hội tại Chicago. Có thể ông chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng xã hội từ cha mình. Năm 1941, Minsky nhận bằng đại học ngành toán của đại học Chicago tuy nhiên những nghiên cứu của ông về khủng hoảng và chu kỳ kinh tế lại cho rằng toán học không giúp ích gì trong việc dự đoán các cuộc khủng hoảng.

Sau đó, ông chuyển đến học tại đại học Harvard và nhận bằng MPA và PhD trong kinh tế, tại đây ông nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của hai đại cổ thụ trong kinh tế học, hai người có ảnh hưởng tư tưởng rất lớn đến các công trình nghiên cứu sau này của ông là Joseph Schumpeter và Wassily Leontief.

Minsky giảng dạy tại đại học Brown từ năm 1949 đến năm 1958, và là phó giáo sư kinh tế tại đại học California từ năm 1957 đến 1965. Năm 1965, ông trở thành giáo sư kinh tế của đại học Washington ở St Louis và nghĩ hưu vào năm 1990. Vào thời điểm ông qua đời, ông là học giả ưu tú (Distinguished Scholar) tại Viện Kinh tế Levy của Bard College.

Minsky là một nhà tư vấn cho Ủy ban về tiền và tín dụng, trong khi ông là giáo sư Kinh tế tại Đại học California, Berkeley.

http://chiemtinhtaichinh.blogspot.com/2012/07/vietnam-co-gap-phai-giam-phat-hay-khong.html



Phương pháp tiếp cận của Minsky giải thích rõ vấn đề chu kỳ kinh tế, điều mà Keynes đã đề cập nhưng lại bị nhiều nhà kinh tế giải thích lệch lạc. Những lý giải của ông được gọi là “Thuyết mất ổn định tài chính- financial instability hypothesis”. Thuyết mất ổn định tài chính là lý thuyết về tác của nợ đối với hành vi có tính hệ thống và cũng tính đến cách thức mà nợ còn có ý nghĩa. Thuyết này cho rằng, nguyên nhân gây ra các cuộc suy thoái kinh tế không phải là do các cú sốc từ bên ngoài mà là vấn đề nội sinh. Chính trong giai đoạn thịnh vượng của nền kinh tế đã hàm chứa các yếu tố bất ổn để gây nên sự suy thoái. Ông giải thích rõ trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng mạnh, tâm lý ưa thích rủi ro (hoặc là tự mãn) đã khuyến khích gia tăng đòn bẩy nợ. Nguyên nhân khiến các doanh nghiệp gia tăng đòn bẩy nợ là vì họ nhìn thấy khả năng sinh lợi từ nhiều dự án. Tuy nhiên, điểm mấu chốt trong quan điểm của Keynes và cả Minsky là con người rất kém trong dự báo tương lai. Tương lai là “một con thiên nga đen” và nhiều dự báo của các doanh nghiệp là không chính xác về lợi nhuận của các dự án. Sự gia tăng đòn bẩy nợ cao đến mức tạo ra các rủi ro rất lớn. Minsky cho rằng, trong quá trình mở rộng, sự vay nợ của các doanh nghiệp chuyển từ tài trợ kiểu “phòng ngừa (hedge)”, tức có khả năng trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi sang tài trợ kiểu “đầu cơ” , tức chỉ có khả năng trả lãi và cần gia hạn thêm thời gian để chi trả cả phần vốn vay. Cuối cùng là chuyển sang tài trợ kiểu “ponzi”, tức doanh nghiệp chẳng còn có khả năng trả lãi. Thực chất doanh nghiệp vay nợ để lấy tiền của người này “đập” sang cho người kia. Tất nhiên, tài trợ kiểu ponzi luôn dẫn đến sự vỡ nợ. Do đó, Minsky đã nói cấu trúc tài chính của chủ nghĩa kinh tế tư bản trở nên ngày càng dễ đổ vỡ hơn qua mỗi giai đoạn thịnh vượng.


Chu kỳ của Minsky được chia thành ba giai đoạn. Đầu tiên là một khoảng thời gian dài có sự tích lũy nhanh của nợ. Tiếp đến là thời điểm mà các nhà kinh tế gọi là: thời điểm Minsky (Misky moment), tức những người cho vay trở nên thận trọng hoặc hạn chế cho vay và các doanh nghiệp có cấu trúc đòn bẩy cao sẽ gặp phải khó khăn về tài chính (chính là mùa hè năm 2007 trong cuộc khủng nợ dưới chuẩn của Mỹ). Tiếp sau thời điểm Minsky là “sụp đổ Minsky (Minsky meltdown)” khi các doanh nghiệp buộc phải bán tháo tài sản để trả nợ (chính là thời điểm năm 2008).


Một nghiên cứu khác của Richard Koo (2008) cho thấy việc lĩnh vực tư nhân giảm nợ để làm lành mạnh bảng cân đối tài sản đã khiến cho nền kinh tế bị suy thoái. Nghiên cứu của Koo về giảm phát ở Nhật cho thấy bắt nguồn từ nguyên nhân doanh nghiệp và người dân theo đuổi mục tiêu tối thiểu nợ chứ không phải là mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận. Trong thời kỳ bong bóng bất động sản vào những năm 90, người dân thường dùng bất động sản để thế chấp cho các khoản vay và tiếp tục đầu tư các các dự án khác. Khi bong bóng bất động sản nổ tung, giá giảm mạnh và trên bảng cân đối tài sản là một khoản lỗ lớn được trích lập. Vì vậy mới gọi đây là “khủng hoảng bảng cân đối tài sản-Balance sheet Recession”. Koo cho rằng cả thời kỳ Đại khủng hoảng lẫn giảm phát hiện nay ở Nhật đều có chung tình trạng này. Khi khoản lỗ xuất hiện trên bản cân đối tài sản, dòng tiền được tạo ra mỗi năm được dùng để trả nợ thay vì tái đầu tư. Lúc cả nền kinh tế không tái đầu tư sẽ làm giảm tổng cầu và dẫn đến kinh tế bị đình đốn.


Thời điểm Minsky của kinh tế Việt Nam


Những nghiên cứu trên cho thấy, sự gia tăng đòn bẩy nợ là nguyên nhân dẫn đến giảm phát và tiếp theo là kinh tế đình đốn. Khi đối chiếu với lý thuyết, tôi nhận thấy Việt Nam đã sự bùng nổ tín dụng trong nhiều năm qua và khiến các SOEs nói chung và đặc biệt là các tập đoàn kinh tế của nhà nước nói riêng đang trở nên rất rủi ro (khác với ở phương tây là sự tích lũy nợ của khu vực tư nhân và nợ công của chính phủ). Từ năm 1998 đến năm 2010, tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam mỗi năm luôn cao hơn mức 23%/năm. Ở Việt Nam, với chính sách lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo và dùng các tập đoàn, tổng công ty làm các quả đấm thép nhằm kiến tạo phát triển nên nhiều nguồn lực kinh tế, tất nhiên việc cho vay sẽ được dành cho các tập đoàn. Theo đó, tính đến tháng 9.2011, dư nợ vay ngân hàng của SOE lớn là 415,347 tỷ đồng tương đương 16.9% tổng dư nợ cả nước. Trong đó, hơn một nửa số nợ tập trung vào 12 tập đoàn kinh tế nhà nước (218,738 tỷ) chiếm 8.76% tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng. Bốn tập đoàn nợ lớn nhất là PetroVietnam (72,300 tỷ), EVN (62,800 tỷ), Vinacomin (20,500 tỷ) và Vinashin (19,600 tỷ).


Hệ quả là đòn bẩy nợ của các Tập đoàn, tổng công ty ở mức rất cao. Theo dữ liệu từ đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của Bộ Tài chính trình bày tại Phiên họp thường kỳ chính phủ tháng 4.2012, tính đến tháng 9.2011, có đến 30/85 (tức 35%) tập đoàn và tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao hơn 3 lần. Đặc biệt có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ này trên 10 lần gồm TCT Xây dựng Công nghiệp (Tập đoàn Sông Đà), TCT Xây dựng CTGT 1, TCT Xây dựng CTGT 5, TCT Xây dựng CTGT 8, TCT Xăng dầu Quân đội, TCT Thành An và TCT Phát triển đường cao tốc.


Vào tháng 5.2012, vụ việc Vinaline thua lỗ và có thể bị vỡ nợ được phanh phui trên báo chí. Theo đó, chính phủ cho biết tính đến cuối năm 2011 (tin ngày 12.6.2012), khoản nợ của Vinalines là 43,100 tỷ đồng (tương đương 2.1 tỷ USD) – gấp 4 lần so với vốn chủ sở hữu ở mức 9,410 tỷ đồng. Vụ việc này làm người ta nhớ đến Vinashin, tập đoàn doanh nghiệp đóng tàu có khoản nợ lên đến 4.5 tỷ USD khiến sức khỏe của các ngân hàng Việt Nam chao đảo (nợ xấu). Sức khỏe tài chính của một số tập đoàn và doanh nghiệp lớn của Việt Nam đang ở tình trạng báo động. Ví dụ như Vinacomin, TKV bị Moody hạ hạn mức tín nhiệm xuống mức tiêu cực vì sức khỏe tài chính thiếu lành mạnh.


Như vậy, chúng ta đã xuất hiện tình trạng tích lũy nhanh nợ ở các tập đoàn và tổng công ty nhà nước. Sự cảnh giác đã xuất hiện ở các nhà đầu tư nước ngoài, những người cung cấp vốn trên thị trường trái phiếu quốc tế. Từ năm 2011, dư luận trong nước lên tiếng nhiều về tình trạng làm ăn thua lỗ và tài chính thiếu lành mạnh của các tập đoàn và tổng công ty. Các tập đoàn và tổng công ty đang đứng trước áp lực phải thoái vốn ở nhiều ngành nghề, trong đó có bất động sản và chứng khoán. Đây chính là “thời điểm Minsky” cho nền kinh tế Việt Nam.


Liệu có thể ngăn chặn được sự sụp đổ Minsky?


Sụp đổ Minsky đang dần xuất hiện. Năm 2011, hoạt động thoái vốn ngoài ngành được thực hiện từng phần là một trong những nguyên nhân khiến TTCK Việt Nam giảm sâu. Và từ tháng 10.2011, giá bất động sản bắt đầu tụt dốc. Lưu ý, ở nước ngoài, các cá nhân đi vay để đầu tư hoặc đầu cơ vào các tài sản tài chính nhưng ở Việt Nam, các SOE đi vay để đầu tư hoặc đầu cơ vào bất động sản, thị trường chứng khoán. Trong đó, bất động sản là quan trọng vì đây vừa tài sản dùng để đảm bảo vừa là thị trường bị đầu cơ mạnh mẽ. Do đó, chuyển động của giá bất động sản sẽ thể hiện rõ giai đoạn bán tháo các tài sản giống như thế giới. Chuyện các tập đoàn và tổng công ty, buộc phải bán các dự án bất động sản mà họ đang sở hữu để trả nợ là hoàn toàn có thể (nhưng vẫn còn một khả năng khác mà tôi sẽ đề cập ngay dưới đây).


Cũng một lưu ý khác là đầu tư vào thị trường bất động sản không chỉ các doanh nghiệp nhà nước mà còn cả kinh tế tư nhân. Ở Việt Nam, có sự tồn tại giữa những nhóm lợi ích thân hữu với các quan chức (tư bản thân hữu) để đầu tư vào các dự án bất động sản. Những người này cũng được ưu ái về tín dụng và dẫn tới sự tích lũy nhanh về các khoản nợ.


Để ngăn chặn sự sụp đổ của Minsky và đồng thời là phương pháp chữa trị giảm phát cần thiết phải có sự can thiệp của ngân hàng trung ương và chính phủ. Trên thế giới, tùy thuộc vào mỗi quan điểm kinh tế của người điều hành sẽ có những chính sách khác nhau. Hiện nay, điểm chung mà các ngân hàng trung ương từ Mỹ, Nhật Bản, Anh và ECB thực hiện đều là các đợt nới lỏng định lượng. Theo quan điểm của lý thuyết tiền tệ của Milton Friedman, giảm phát sẽ được triệt tiêu bằng cách tạo ra sự tràn ngập thanh khoản trong hệ thống.


Tuy nhiên, ở quan điểm trái ngược của trường phái Keynes và cả trong lý thuyết giảm phát-nợ của Fisher, chính sách tiền tệ không hiệu quả để chữa trị giảm phát vì lý do bẫy thanh khoản. Lúc này lãi suất giảm xuống ở mức thấp khiến cho mọi người quyết định nắm giữ tài sản của mình dưới dạng tiền mặt (chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền bằng 0). Bẫy thanh khoản sẽ tạo ra giảm phát và đến lượt nó, giảm phát lại thúc đẩy bẫy thanh khoản, tạo nên một vòng xoáy. Lưu ý là bẫy thanh khoản có thể xảy ra ngay cả khi lãi suất chưa đạt tới không. Chính sách tài khóa hay các gói kích thích kinh tế được cho là giải pháp duy nhất nhằm gia tăng tổng cầu (đồng thời tạo ra kỳ vọng lạm phát). Vào năm 2009, thế giới và cả Việt Nam đều thực hiện các gói kích cầu. Thực tế, vấn đề giảm phát đã từng đề cập vào cuối năm 2008 tại Việt Nam nhưng sau khi có gói kích cầu, giảm phát đã bị chặn đứng.


Theo nhiều nghiên cứu, chính sách tài khóa đang được ủng hộ để ngăn ngặn suy thoái. Ví dụ theo nghiên cứu của Koo (2011), để tránh rơi vào đình đốn (depression), chính phủ Nhật đã tăng chi cho chính sách tài khóa khoảng 460 nghìn tỷ yên hoặc 92% GDP trong giai đoạn 1990-2005. Mặc dù chính sách tài khóa vẫn không nước Nhật thoát khỏi đình trệ nhưng nó đã hạn chế một kịch bản đình trệ nặng nề hơn. Koo đã ước tính, nếu không có chi tiêu của chính phủ Nhật, chênh lệch giữa GDP thực tế và GDP giả thiết là khoảng 2,000 nghìn tỷ yên trong vòng 15 năm. Nói cách khác, Nhật đã chi 460 nghìn tỷ yên để đổi lấy 2,000 nghìn tỷ yên. Koo cũng cho rằng, chính sách kích thích của chương trình New Deal programs mới là nguyên nhân khiến Mỹ thoát khỏi Đại suy thoái. Koo nói: “Nhiều người cho rằng chính sách tiền tệ đã dẫn đến sự phục hồi của Mỹ từ sau năm 1933 nhưng họ đã không quan sát đầy đủ phần tài sản của bảng cân đối kế toán của hệ thống ngân hàng. Từ 1933-1935 chỉ các khoản cho vay đối với chính phủ tăng trong khi cho vay đối với lĩnh vực tư nhân không tăng. Cho vay đối với chính phủ tăng vì chính phủ đã tài trợ cho New Deal. Cả hai ví dụ trên cho thấy kích thích tài khóa là cần thiết để giữ GDP và cung tiền thoát khỏi suy thoái trên bảng cân đối tài sản.”


Thực tế ở Việt Nam cho thấy chúng ta đang cần một gói kích thích kinh tế lần hai hơn là việc bơm tiền ào ạt. Sau đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam vào cuối năm 2011, NHNN đã thực hiện bơm tiền ào ạt vào thị trường liên ngân hàng và lãi suất cho vay qua đêm đã trở nên rất thấp (2.5%/năm, tức thấp hơn cả năm 2007). Trần lãi suất huy động cũng liên tục được cắt giảm từ mức 14%/năm xuống còn 9%/năm. Nhưng kết quả là tăng trưởng tín dụng dụng vẫn âm. Số lượng doanh nghiệp phá sản và ngưng hoạt động tăng vọt. Cụ thể, trong 3 tháng đầu năm 2012, đã có trên 2,400 doanh nghiệp (DN) làm thủ tục giải thể và trên 11,600 DN đăng ký ngừng hoạt động có thời hạn hoặc dừng thực hiện các nghĩa vụ thuế, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Nếu như Việt Nam đã rơi vào bẫy thanh khoản thì cho dù NHNN có tiếp tục cắt giảm lãi suất cũng khó mà tạo nên tăng trưởng tín dụng.


Một bước đi gần đây mà NHNN Việt Nam đang muốn thực hiện là kế hoạch thành lập công ty mua bán nợ xấu thuộc NHNN trị giá 100,000 tỷ đồng để lành sạch nợ xấu của các ngân hàng. Giải pháp này là hợp lý vì kinh nghiệm của Mỹ cho thấy trong cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn năm 2007, cũng có chương trình gọi là giải trừ tài sản xấu (TARP-Troubled assets relief program) trị giá 700 tỷ USD để mua lại các khoản nợ dưới chuẩn khó có khả năng thu hồi từ các định chế tài chính Mỹ. Tuy nhiên, điểm lưu ý là chương trình TARP được giao cho Bộ Tài Chính thực hiện và phải báo định kỳ trước Quốc Hội. Những nghiên cứu của tôi về cách thức xử lý nợ xấu cho hệ thống ngân hàng Trung Quốc vào những năm 1999-2000 cũng cho thấy các công ty mua bán nợ cũng trực thuộc Bộ Tài Chính chứ không phải NHNN.


Do đó, nếu Việt Nam có một chương trình tương tự nhằm làm sạch được nợ xấu của các ngân hàng tức đồng thời cũng có thể làm chặn lại được khả năng bán tháo tài sản để trả nợ của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề là việc xử lý nợ xấu phải được thực hiện một cách minh bạch và không vì quyền lợi của các nhóm lợi ích. Thứ hai, là phương pháp mua lại nợ xấu như nợ nào được mua và giá mua là bao nhiêu phải được rõ ràng và được sự chấp thuận của Quốc Hội. Thế nhưng đến hiện nay, kế hoạch thành lập công ty mua bán nợ xấu thuộc NHNN vẫn chỉ mới là ý tưởng nên chưa thể đánh giá được hiệu quả của chính sách.


Lĩnh vực tư nhân Việt Nam dù là thành phần ít được hưởng các ưu đãi về kinh tế hơn so với thành phần kinh tế nhà nước nhưng lại đóng góp hơn 48% vào GDP, cao hơn mức 30%-35% của khu vực kinh tế nhà nước. Điều đáng lo ngại là khu vực kinh tế tư nhân đang chịu “tác động hất văng (crowding out)” do sự chèn ép từ khu vực công. Tức là sự đầu tư quá mức của khu vực công (chi tiêu chính phủ) sẽ làm lãi suất thị trường tăng lên và gây nên sự suy giảm đầu tư của khu vực tư nhân. Khu vực tư nhân cũng dễ tổn thương hơn bởi sự mất ổn định của thị trường tiền tệ bởi phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hơn nữa, ở Việt Nam khu vực tư nhân không được đầu tư vào một số lĩnh vực trong yếu nên nếu như khối SOE trong đảm đương trọng trách của mình thì nền kinh tế có thể bị thiếu những cơ sở vật chất cần thiết để phát triển (như thiếu điện, thiếu nước, thiếu cơ sở hạ tầng cầu cảng, thiếu vận tải biển…)


Khả năng sụp đổ Minsky vẫn đang hình thành và vẫn chưa có giải pháp để ngăn chặn.
Bài viết tham khảo các tài liệu nghiên cứu sau:
1/ “The world in balance sheet recession:causes, cure, and politics” của Richard C.Koo (2011).
2/ “Debt, Deleveragin and the liquidity Trap: A Fisher-Minsky-Koo Approach” của Gauti B.Eggertsson (NY Fed) và Paul Krugman (Đại học Princeton) (Ngày 16.11.2010).
3/ “Irving Fisher, Debt deflation and crises” của Robert Shiller (tháng 8.2011).
4/”The Credit Crunch: A Minsky Moment” của Charles J.Whalen (Tháng 1.2008).
5/ “The Financial Instability Hypothesis” của Hyman P.Minsky (Tháng 5.1992).
6/ Stabilizing an Unstable Economy của Hyman P.Minsky (Ngày 22.9.1986).
7/ “The debt-deflation theory of great depressions” của Irving Fisher (1933).

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

Tiền đẻ ra tiền

Tiền đẻ ở đây là tiền gửi ngân hàng. Nôm na là người có nhu cầu sẽ vay tiền của người nhàn rỗi thông qua ngân hàng or ngân hàng cần sẽ vay của ngân hàng khác trên thị trường liên ngân hàng.
Lãi suất càng cao khi người vay càng cần tiền và mức tín nhiệm càng thấp.
Vậy ai sẽ gửi tiền ở ngân hàng?
Ngoài nhóm truyền thống là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp gửi tiền nhàn rỗi, tiền chờ thanh toán thì đáng ngạc nhiên là những người/tổ chức sau cũng gửi tiền lấy lãi:
- Ngân hàng: ví dụ như ACB gửi tiền tại Vietinbank, vỡ lở khi bị Huyền Như lừa.
http://nganhangonline.com/vu-uy-thac-718-ty-dong-cua-acb-gui-vao-vietinbank-qua-loi-ong-le-vu-ky-tai-dhcd-54147.html
- SCIC cũng gửi tiền qua ngân hàng
http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/gui-ngan-hang-ca-chuc-ngan-ti-lay-lai-scic-dang-lam-kho-dn-20130308101444622ca31.chn
- Dự trữ ngoại tệ quốc gia về truyền thống gửi tại ngân hàng nước ngoài. VN thì chưa biết
http://vietbao.vn/Kinh-te/Du-tru-ngoai-hoi-se-bo-che-do-mat/20470265/90/
- Doanh nghiệp nhà nước đương nhiên gửi tiền qua bank
- Kho bạc nhà nước quản chi ngân sách chính phủ: 
http://luattaichinh.wordpress.com/2012/09/14/tien-gui-cua-kho-bac-nh-nuoc-tai-ngn-hng-thuong-mai-nhn-tu-gc-do-chnh-sch-tien-te-v-chnh-sch-ti-kha-trec/
  Vấn đề nếu những tổ chức đặc biệt gửi tiền vô ngân hàng thương mại thì số tiền này giúp tăng cung tín dụng bao nhiêu.
Khi vòng quay tín dụng gia tăng dẫn đến một số ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản phải nâng lãi suất huy động lên cao như những năm vừa qua thì số tiền này càng làm nóng thị trường tiền tệ và gây áp lực chênh lệch lãi suất lên bao nhiêu là những câu hỏi cần được trả lời.
Một nghịch lý khi ngân sách thiếu tiền thì chính những dòng tiền này không được sử dụng đúng chỗ mà còn góp phần gia tăng áp lực xấu lên thị trường.

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Hội chứng Thánh Gióng

09.03.21
Tiêu chuẩn phong thánh của dân VN qua truyện Thánh Gióng 
 - Nguồn gốc mơ hồ: mẹ sinh ra do 1 hôm ướm chân vô 1 bàn chân to lạ
 - Có thời gian chịu đựng khó khăn, phải im lặng đến 3 năm: vụ này phụ nữ là khó ha 
- Có biến cố rủi ro lớn: đất nước bị xâm lược nguy cấp 
- Huy động tài nguyên nhiều: 7 nong cơm 3 vại cà, roi sắt ngựa sắt giáp sắt vào thời nhà Ân là cực kỳ quí hiếm (có lẽ phải nhập ngoại)
- Thắng trận không bon chen làm quan, triều chính mà về trời luôn 
PL: - có lẽ ăn cà bị ngộ độc thực phẩm mà chết chăng? Ca ghi nhận VSATTP đầu tiên của người VN nhỉ 
- Số 7 và 3 là số quen của người mình, đêm 7 ngày 3, chớ đi mùng 7 chớ về mùng 3...
........

Bé lên ba sau khi ăn hết 7 nong cơm, 3 vại cà, uống no nước vươn vai thành hơn người lớn. Đánh đông dẹp bắc. Xong chuyện bay về trời.
Chuyện này ảnh hưởng tới tâm tính người Việt muốn lớn nhanh lớn mạnh, giàu nhanh...nói gọn lại là thành công thật nhanh bấp chấp căn cốt 3 tuổi.

- Bé đi học, phụ huynh, trường nhồi nhét, ganh đua ngỡ con trẻ đều là thần đồng.

- Làm ăn bóc ngắn cắn dài. Vốn ít vay nợ nhiều hòng dùng đòn bẩy dài cho mau giàu

- Công ty nhỏ hợp lại thành tập đoàn....

Gióng còn bay được về trời, sau khi ráng bằng con bò thì sao?
và đây

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/nhan-dien-nhung-virus-gay-lam-phat-o-viet-nam-20130306022331460ca33.chn

Nhận diện những “virus” gây lạm phát ở Việt Nam

Ảnh minh họa

(CafeF) Mặc dù năm 2012, CPI được kiềm chế ở mức 6,81%, song không thể xem nhẹ nguy cơ lạm phát cao trở lại trong một vài năm tới. Bởi, những “virus”gây “bệnh”vẫn luôn rình rập, kéo lạm phát quay về bất cứ lúc nào.


“Bệnh” lạm phát vẫn có nguy cơ tái phát

Trong thời kỳ 2007-2012, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 so với tháng 12 năm trước đều tăng trên 10%/năm (trừ năm 2009 và năm 2012), trong khi đó, tăng trưởng GDP chững lại, chỉ đạt khoảng 6%/năm từ năm 2008 đến nay, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 7-8% các năm trước đó. So sánh trong cùng thời kỳ, lạm phát của nước ta cao hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
Nguồn: Tổng cục Thống kê



Nhìn vào diễn biến của lạm phát những năm 2004-2012 có thể thấy, tính "chu kỳ" nhất định đối với lạm phát ở nước ta. Trong 9 năm (2004-2012), vòng xoáy lạm phát lặp lại theo chu kỳ 3 năm 1 lần: 2 năm tăng vọt lên và 1 năm giảm sâu đột ngột (trong 3 năm 2004-2006: mức CPI trong các năm đó lần lượt là 9,5%; 8,4% và 6,6%; Giai đoạn 2007-2009, CPI lần lượt là: 12,6%; 19,9% và6,5%; Giai đoạn 2010-2012: 11,8%; 18,13% và 6,81%). Nếu như tính chu kỳ của lạm phát như các năm trước đó, lạm phát năm 2013 và 2014 có thể tăng lên.

Năm 2013 đã đi được 2 tháng. Tháng 1/2013, CPI đã tăng tới 1,25%. Lạm phát tháng 2 tuy chỉ tăng 1,32% so với tháng 1, nhưng tính chung 2 tháng đầu năm, CPI đã tăng 2,59% so với tháng 12/2012. Như vậy, với mục tiêu lạm phát năm 2013 ở mức 6-6,5%, thì trong 10 tháng còn lại, CPI sẽ chỉ được phép tăng dưới 0,4%/tháng. Rõ ràng, đây là mục tiêu khó khả thi trong bối cảnh nhiều yếu tố đe dọa lạm phát đang rình rập.

Hơn nữa, theo nhận định của HSBC, lạm phát cơ bản tháng 2 tương tự như tháng 1 vẫn ở mức cao 12,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong tháng, lạm phát cơ bản có điều chỉnh yếu tố mùa vụ so với tháng trước đã giảm 0,5% từ mức 0,9% của tháng 1. Lạm phát thực phẩm tháng 2 tăng nhẹ từ mức 1,3% của tháng 1 lên mức 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Kết quả là lạm phát thực phẩm tháng 2 có điều chỉnh mùa vụ so sánh theo tháng tăng 0,2% từ mức 0,6% trong tháng 1.

Đồng quan điểm với nhiều chuyên gia khác, TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội), năm 2012, dù lạm phát danh nghĩa thấp, song lạm phát lõi (không bao gồm lương thực và năng lượng) vẫn rất cao, khoảng 11%. Do đó, mục tiêu đưa lạm phát năm 2013 ở mức 6 - 6,5% là rất mong manh.

Nhận diện “virus” gây bệnh

Thực tế, có rất nhiều nguyên nhân gây áp lực tạo nên lạm phát cao. Trong đó, có những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ tiền tệ, tín dụng, tài khóa, những xuất phát từ cơ cấu nền kinh tế và hiệu quả đầu tư; cùng những nguyên nhân khách quan, như: xu thế giá cả hàng hóa thế giới ngày càng tăng cao; sự tăng lên của chi phí sản xuất; sự tăng giá của các mặt hàng chủ chốt và dịch vụ thiết yếu...

(1) Tiền tệ, tín dụng: Cung tiền trong những năm qua có sự nới lỏng quá mức là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao ở nước ta. Nếu như năm 2000 tổng phương tiện thanh toán (M2) của Việt Nam chỉ ở mức dưới 60% GDP, thì đến cuối năm 2010 đã lên đến trên 130% GDP (tổng dư nợ tín dụng trên 110% GDP).


Tốc độ tăng cung tiền cao hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế đã tồn tại trong thời gian dài. Vào năm 2007, tốc độ tăng trưởng M2 là 43,7%, tín dụng là 53,9%; mức tăng kỷ lục này là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008. Đến năm 2009 và 2010, tăng trưởng M2 và tín dụng lại tăng lên mức khoảng 30%/năm, đã dẫn đến lạm phát năm 2010 và 2011 lại bị đẩy lên cao.


Trong năm 2011, lạm phát mục tiêu đề ra nhỏ hơn 7%/năm, thấp hơn nhiều so với mức lạm phát thực tế bình quân của 3 năm trước đó (2008-2010) là 12,73%. Để đạt được mục tiêu này, Ngân hàng Nhà nước bắt buộc phải cắt giảm cung tiền (M2 còn 12,4%) và giảm tăng trưởng tín dụng đột ngột (còn 14,4%), gây ra những hệ quả không mong muốn, như: lãi suất cho vay và nợ xấu tăng cao, thanh khoản căng thẳng…, nhưng lạm phát vẫn ở mức quá cao 18,13%.


Nguyên nhân của mức lạm phát năm 2011 quá cao so với mục tiêu đề ra là do những hệ quả của việc mở rộng cung tiền quá mức và tăng trưởng tín dụng quá “nóng” trong giai đoạn trước đó (trung bình cung tiền M2 và tín dụng tăng 31,17%/năm và 35,17%/năm trong giai đoạn 2004-2010).

Năm 2012, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, nhờ thực hiện quyết liệt và đồng bộ hàng loạt giải pháp, tốc độ tăng trưởng M2 cả năm chỉ khoảng 20% và tín dụng chỉ tăng khoảng 7%, nên lạm phát đã giảm mạnh đáng kể so với năm 2011.

(2)“Chi phí đẩy”: Chi phí sản xuất, cùng giá cả hàng hóa tăng trong thời gian qua cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng giá thành và giá bán sản phẩm, từ đó gây ra lạm phát cao ở nước ta (nguyên nhân do "chi phí đẩy"). Năm 2011, chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất tăng bình quân 21,3% so với cùng kỳ năm 2010, cao hơn so với tốc độ tăng CPI. Chi phí sản xuất tăng một phần là do việc tăng giá điện, than, xăng dầu theo lộ trình, mặt khác do giá hàng hóa nhập khẩu vào nước ta tăng trong các năm gần đây.

Lãi suất vốn vay ở mức cao, nhất là trong năm 2011, cũng làm tăng giá thành sản phẩm và gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Năm 2013, việc nới lỏng hơn về tiền tệ, tài khóa để thúc đẩy tăng trưởng trong nửa cuối năm 2012, và sẽ tiếp tục trong năm 2013 chắc chắn cũng sẽ tạo nhiều áp lực lên lạm phát. Đặc biệt, để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, Chính phủ sẽ có nhiều chính sách giảm lãi suất, ưu đãi thuế cho một số lĩnh vực ưu tiên. Nếu không kiểm soát tốt, những chính sách này sẽ có những “tác dụng phụ”, tác động xấu đến mục tiêu kiềm chế lạm phát.

“Chúng ta đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng từ năm 2012, nhưng không tác động nhiều đến tăng tổng cầu và tăng trưởng kinh tế. Nếu tiếp tục nới lỏng sẽ gây lạm phát”, TS. Nguyễn Đức Thành cảnh báo.

(3) Do chính sách tài khóa: Việc thực hiện chính sách kích cầu để ngăn chặn suy giảm kinh tế vào năm 2009 đã gây áp lực đến mặt bằng giá (nguyên nhân do "cầu kéo"). Đồng thời bội chi ngân sách các năm từ năm 2006-2010 đều ở mức trên 5% GDP (trừ năm 2008 đạt 4,6%), cá biệt năm 2009 lên đến 6,9% và năm 2010 là 5,6%. Tuy nhiên, nếu tính cả trái phiếu chính phủ, thì tỷ lệ bội chi còn cao hơn.

Năm 2011 và năm 2012, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp tiết kiệm chi thường xuyên, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi NSNN (xuống 4,9% vào năm 2011; 4,8% vào năm 2012) và giảm nợ công để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội (Nghị quyết số 11/NQ-CP và các Nghị quyết khác của Chính phủ). Việc thực hiện các giải pháp này đang thu được những kết quả bước đầu trong kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô ở nước ta.

(4) Nguyên nhân về cơ cấu kinh tế, cơ cấu và hiệu quả đầu tư: Theo các chuyên gia kinh tế, đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến mất ổn định các cân đối vĩ mô và đẩy lạm phát tăng cao trong thời gian vừa qua.

Những yếu kém trong nội tại nền kinh tế là: cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư bất hợp lý và kém hiệu quả, kéo dài, tích tụ trong nhiều thời kỳ, chậm được đổi mới. Nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và dựa nhiều vào tăng vốn đầu tư; công nghệ lạc hậu, năng suất thấp. Cơ cấu ngành, lĩnh vực chậm được chuyển đổi; tình trạng gia công kéo dài quá lâu, công nghiệp phụ trợ chậm phát triển, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu dựa vào nguyên vật liệu nhập khẩu từ bên ngoài.

Bên cạnh đó, việc điều chỉnh giảm giá trị tiền nội tệ để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu cũng phần nào làm tăng giá thành sản xuất, đẩy giá bán lẻ tăng cao. Sự mất cân đối về cán cân thương mại cũng gây thiếu hụt ngoại tệ, tác động đến giá cả, lạm phát trong nước.

Huy động vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm 2006-2010 đạt mức cao (bình quân 42,7% GDP), nhưng do tình trạng đầu tư dàn trải, hiệu quả đầu tư thấp, nên góp phần làm lạm phát tăng cao.




Trí An

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013

Tấn vs. Kilo submarine

Nhân dịp Hải quân VN sắp nhận tàu ngầm Kilo. Xem lại khả năng đối chọi với tàu ngầm lớp Tấn
http://trantuananh9.blogspot.com/2012/03/chuyen-hoc-vo.html
Chuyện học võ


Dân làng Nam đi chợ huyện về hớt hơ hớt hải chạy vô báo cáo Lý Toét và Xã Xệ
- Báo cáo hai đại ca, bọn em đi chợ huyện bị ngăn cản, tức không chịu được
- Ai ngăn tụi em
- Thưa, trên đường gần làng Trung, thanh niên làng Trung dàn hàng trên đường luyện võ Thiếu lâm, bày thập bát ban binh khí ra đầy góc đường, vũ khí sáng choang
- Bọn em phải lách mình mà đi còn bị mấy thằng đấm gió vù vù ngay sát vành tai
- Vậy có mất gì không
- Thưa, mất ít cá với nải chuối
- Bọn họ còn khoe mới qua làng Bắc thửa được ít đồ lặn. Hôm nào sẽ lặn bắt hết cá ở ao chung.

Lý toét và xã Xệ suy nghĩ lung lắm, sau gọi bọn tham miu vô phòng bàn bạc.
- Dân làng đã biết chuyện bị ăn hiếp chưa?
- Thưa 2 anh, dân làng biết rồi, hiện chia làm 4 phe, cãi nhau loạn xạ
- Nói bọn ta nghe xem là những phe nào. Bọn này láo thật, chia phe mà không báo cáo ta.
- Phe thứ nhất, phe này mạnh nhứt, gồm toàn nhà giàu, có buôn bán với làng Trung. Bọn này nhập hàng mã từ làng Trung về và xuất củ chuối sang. Sếp làng Trung khoái món củ chuối của làng ta lắm.

Cả lý Toét, xã Xệ cùng đám tham mưu cười khoái chí.
- Vậy phe này muốn gì?
- Tụi nó bảo, thời này là thời làm ăn. Phàm làm ăn thì không nên đánh nhau. Ngậm miệng ăn tiền thì tốt nhất. Phe này có cao kiến, cao kiến thưa 2 anh
- Cao kiến gì mau nói nghe
- Tụi nó bàn, từ thời ông cha mình cứ 4 năm lại tiến cống sếp làng Trung một lần, mãi sau huyện đổi mới nên mới bỏ lệ tiến cống đi nhưng xem chừng dân làng Trung còn khoái món đó lắm.
- Giờ làm vậy dân làng biết họ chửi cho
- Không tiến cống kiểu cũ nữa. Mình cử thanh niên qua xin học võ của họ, trả họ học phí tương đương đồ tiến cống, chắc họ hiểu mình chịu làm em. Học võ là tình sư phụ đệ tử kia mà.
- Kế này hay, làm ngay
- Thưa, thế còn 3 phe kia
- ờ nhỉ, chú nhắc không ta quên béng đi mất. Trình bày đi.
- Phe thứ 2, hung hăng lắm, đòi đánh, đòi đánh.
- Đánh như thế nào?
- Họ bảo, làng mình xưa nay đánh nhau đâu có thua ai bao giờ
- Họ kể toàn chuyện đánh lén, đánh du kích. Như năm xưa trai làng Đông sang tranh tài hội vật làng. Đám đó cao to quá, vật trai làng ta té oành oạch. Tưởng họ thắng giải tới nơi, may mà ta nhớ mưu trạng Quỳnh ngày xưa, nên thắng ngược
- ???
- Ta cử o Mô đóng khố ra vật thi, trai làng Đông vốn hám gái, tính đè ngửa đô nhà mình ra, dè đâu đô mình không có vật mà lại ôm chặt đô làng Đông. Âm dương tương hợp, chú em sướng nhủn người ra thì bất thình lình o Mô thò tay bóp dái mạnh quá làm đô làng Đông bất tỉnh nhân sự. Nghe đâu giờ đô làng Đông vẫn vừa thèm vừa sợ nên chỉ dám lảng vảng ở cổng làng.
- Bọn này biết một chẳng biết hai, có phải bọn ta không tức đâu nhưng kế đó không dùng với dân làng Trung được vì tụi nó đâu gallant với gái như đô làng Đông.
- Nhớ mấy năm trước tranh nhau ở hồ cá ta tính dùng kế củ đậu bay cho tụi nó một trận mà không thành.
- Cử hơn chục trai làng đóng khố chèo thuyền giả vờ dạo chơi, đáy thuyền chất đầy đá cục, tính đi ngang qua bọn đánh cá làng Trung thì chọi cho chúng sưng mặt sưng mũi.
- Dè đâu tụi nó nghi ngờ, ta ra chưa tới nơi đã bị chúng dùng kế Yết Kiêu lặn dưới hồ đục đắm thuyền ta chết mất gần nửa. Căm lắm mà chưa nghĩ ra cách gì cả.
- Đêm vẫn nghe mùi cá nướng từ hồ thoảng qua, tức lắm tức lắm mà phãi nhẫn nhịn mãi.
- Cho nên quyết đánh thì mình chắc thua
- Phe đó nó cứ nói mình theo kế Chí Phèo, đánh xong lăn ra ăn vạ, cả làng cả huyện đổ xô tới xem, mình cứ tố ỷ lớn ăn hiếp nhỏ, tụi làng Trung chắc quê độ không dám đánh mình nữa. Mà phe này đông lắm
- Không ổn, không ổn, mạo hiểm lắm, được vạ thì má đã sưng.
- Thế còn phe thứ 3
- Thưa phe này trung dung, chủ trương nhỏ hóa và to hóa do mấy thằng mắt cận chủ xướng
- Gớm, đám đó trói gà không chặt, chỉ lý thuyết suông
- Bác Xệ bình tĩnh nghe mấy em báo cáo đã
- Thế nào là nhỏ hóa, thế nào là to hóa
- Thưa nhỏ hóa là thế này, mấy gò đất nướng cá giữa hồ xưa nay ta đặt biển cấm đái trong vòng 200m, làng Trung, làng Đông Nam cũng làm thế cả. Giờ ta nên giảm biển cấm đái xuống còn 10m, bố cáo cho cả huyện biết, mấy làng kia quê độ không hiểu luật lệ huyện chắc phải chịu theo.

- Thế còn to hóa- To hóa là ta đi kết giao với làng Đông, làng Bắc và các làng khác nữa
- Làng đông thì có vẻ khó nhẩy, mình vừa bóp dái nó xong
- Thưa, nhưng nó khoái gái làng mình nên chắc nó chịu
- Mấy làng khác xưa mình đánh nhau với nó không, chắc gì họ chịu
- Thời thế thay đổi rồi, vả lại họ cũng ghét dân làng Trung hay ỷ lớn hiếp nhỏ
- Kế đến qua làng Bắc mua mấy bộ đồ thợ lặn, cung tên, kiếm. Chỗ đó là lò vũ khí mà. Làng Trung cũng khoe mua đồ ở đó suốt
- Tiếp đến phái mấy người lẻo mép đi du thuyết, làm hội thảo cho cả huyện biết mình oan ức
- Kế đó thực ra nghe cũng được nhưng phức tạp quá. Thế còn phe 4
- Nhóm đó gọi là phe vì đông chứ thực ra chẳng có chủ kiến gì, chỉ lo kiếm ăn, trai gái. Hờ hững lắm.
Sau một hồi bàn bạc lý Toét và xã Xệ quyết định theo ý của phe 1 là thượng sách, phe 2 là hạ sách còn phe 3 là trung sách.
Thông báo cho trai làng tuyển chọn đi học võ làng Trung. Vì người chọn lởm khởm lại nghĩ học võ là phụ, giao lưu là chính nên chọn toàn bọn cao to, hát karaoke hay, lẻo mép chỉ tội bụng phệ, xoay trở chậm chạp.
Lũ thanh niên đi học được vài tháng, thỉnh thoảng lý Toét, xã Xệ qua làng Trung thăm, chén tạc chén thù với võ sư làng Trung, lấy làm hể hả lắm.
Tưởng sự thế là êm, nào ngờ một hôm tụi đi học võ về than khóc như ri.
- Thưa, tụi nó có cho học võ đâu, toàn phải phục dịch hoặc làm bao cát cho tụi nó đánh đá, khổ sở lắm.
- Nó lại còn đòi về đào củ chuối giữa làng mang sang cho võ sư ăn, vừa ăn nó vừa chê tụi mày học võ dở ẹt.
Xã Xệ, lý Toét cùng đám tham miu lại chụm đầu bàn bạc
- Không xong rùi, tưởng êm mà không phải
- Tụi làng Trung tham quá, đã được voi lại còn đòi củ chuối, lại còn đá đít con em ta nữa. Việc này tới tai tụi đòi đánh là rách việc lắm. Mà củ chuối ta cũng có còn nhiều đâu, sợ vài năm nữa cũng phải sang làng khác mua. Không biết đến đó thì sao.
- Gọi thằng nào giỏi võ nhất trong đám đi học vào đây
- Thưa, không có thằng nào biết đánh nhau cả
- Thôi gọi thằng nào hát dở nhứt, bị đánh đau nhứt vô
- Thưa em có mặt
- Nói bọn ta nghe, qua bên đó nhận xét tụi làng Trung thế nào
- Thưa thoạt đầu tưởng là hùm là hổ, sau thấy cũng thường thôi
- Thằng này khá, nhờ cái tính đó mà làng Nam còn đó.
- Thường ở chỗ nào
- Thưa, tụi nó hoa hòe hoa sói, múa may đẹp nhưng tấn đứng không vững, cận chiến thì vớ vẩn lắm. Có thằng em thấy còn về giành ăn với vợ, tát vợ hộc máu mồm nên con vợ người dân tộc này còn thù thằng chồng lắm.
- Còn gươm giáo sáng choang thế nhưng em phát hiện 10 cái thì 5 cái là bịt giấy bạc cho nó long lánh, cho oai thôi chứ đánh đấm gì cái thứ đó

Lý Toét, xã Xệ vụt tỉnh ngộ vì nhớ tới tụi làng Trung là vua làm hàng mã. Lý Toét nhổ miếng cơm đang ăn xuống đất nói:
- Tụi buôn hàng mã suýt làm hỏng việc của ông, thế mà cứ dương dương tự đắc là thượng sách
- Thôi ta theo trung sách vậy
- 2 đại ca thật sáng suốt. Ta tương kế tựu kế rất hay
- Tương tương cái gì, cũng mồm tham miu bọn bay cả, thượng sách với chả hạ sách
- Thưa anh Xệ đừng nóng, kế mình vừa rồi là kế Câu Tiễn nếm phân
- Trước ta chịu làm em mà làng Trung không chịu, chừ ngoài thì cả huyện chê cười, trong thì các phe sôi sung sục, ngay cả phe 1 nghị hòa nay lắm người cũng tức. Đó chính là thời cơ ta dùng trung sách.
- Cái tụi dài lưng tốn vải hiến kế nghe cũng được chứ nhẩy.
- Thôi, không bàn nhiều nữa. Mau cử người đi mua sắm, học võ sambo, du thuyết, quảng bá, mau.


Lý toét, xã xệ tân biên
Nói chuyện lý Toét, xã Xệ sau khi làng Bắc đồng ý chế đồ lặn cho mới gấp rút tìm thanh niên để luyện môn lặn có khí tài.
Lạ thay, sau vài tháng số người tuyển được rất lèo tèo. Lý Toét cằn nhằn:
- Con cháu Yết Kiệu đâu cả rùi. Lạ thật, lạ thật
Trong đám tham miu có đứa báo cáo:
- Tụi thanh niên nghe đồn lặn có khí tài rất nguy hiểm. Khi đang lặn mà có thằng cắt ống thở thì chết toi, nên tụi nó ngán. Vả lại, tụi nó cũng chỉ rành lạng lách đánh võng trên đường. Có thằng lạng lách dữ quá bay qua cả thành cầu rớt xuống sông nên tụi nó sợ nước lém.
Lý Toét, xã Xệ vò đầu bứt tai mãi. Chợt xã Xệ vỗ đùi cái bép:
- Tui nghĩ ra rùi, lựa mấy đứa bằng cấp tiến sỹ lâu nay vẫn khoe tài khoe giỏi cho đi học lặn
- Ông chỉ được cái tếu. Lũ đó học hành gì, tiến sỹ gíây cả đó
- Thôi đành nhờ tư vấn vậy, gọi giáo làng vô đây.
Giáo làng lật đật tới.
- Sao ông giáo trễ vậy?
- Thưa, vì còn vướng mấy cái hội đồng chấm thi tiến sỹ, hai quan anh thông cảm
- Ông cắt nghĩa giùm bọn tui xem tại sao trai làng miềng sợ nác hỉ?
- Thưa ông Lý, ông Xã, chuyện này thì dài dòng. Hai ôn có nhớ ngày xưa đám thanh niên chia làm hai phe không?
Phe lên rừng đẵn gỗ săn thú thì thành vương thành tướng nào là Sơn tinh, thánh Tản (thực ra Sơn tinh trước cũng theo đoàn đi biển nhưng quay lại vùng núi từ rất sớm)…rất nhiều. Còn đám xuống biển mò cua (bể), bắt cá (kình) thì hăng quá vượt biển sang sống ở làng đảo, trong sách sử vẫn còn ghi, mấy ngài đó cũng hiển hách. Kể ra phải gọi đó là đợt chảy máu thanh niên đầu tiên của làng miềng, thiệt hại không nhỏ.
Chỉ còn mỗi chú Thủy tinh ngủ quên ở lại, sau cầu hôn công chúa bị vua xử thua nên cũng không vui vẻ gì.
Từ đó tới nay dân làng khi hướng nghiệp hay căn dặn con cháu đều lấy núi làm đầu, tránh xa vùng nước ao chuôm sông hồ, nên đâm ra miết rùi dân làng sợ nước. Nỗi sợ lan ra cả tới chuyện tình duyên, có ca dao làm chứng rằng:
“Thà nằm đất với chị hàng hương (nhang)
Còn hơn nằm giường với em hàng cá”.
- Vậy chừ tính răng
- Thưa, cái đó làng Bắc họ có kinh nghiệm, cứ để họ quyết là chắc cú
Lý Toét, xã Xệ cất đi được một nỗi lo, kê cao đầu ngủ kỹ.

Chuyện ở làng Giữa, lâu la vào báo:
- Bẩm đại ca, làng Nam mua đồ lặn của làng Bắc, tính bắt cá và săn san hô đỏ ở hồ
- Bọn đó thửa đồ lặn loại nào?
- Cùng loại với ta mua mười năm trước
- Vậy thì hỏng lo, hỏng lo. Xường thui, xường thui
- Em có kế này
- Kế gì nói nghe
- Tụi nó ít tiền mua được ít đồ, lại mới tập lặn nên lạng quạng
- Ừa, tụi đó bơi còn chả ra sao mà đòi lặn
- Khi nào tụi làng Bắc hết huấn luyện tụi làng Nam ta sẽ khởi sự. Ta có máy dò cá trên thuyền, phát hiện tụi làng Nam ra lặn thì cứ ba đứa mặc đồ lặn kè một đứa thợ lặn làng Nam, trên thuyền bủa lưới vây, một đứa giữ tay, một đứa giữ chưn, đứa còn lại giựt ống thở. Thể nào tụi làng Nam cũng thua, đó là ngón gia truyền làng ta, chiến thuật biển người mừ.
Tụi võ sư làng Giữa vỗ tay khen:
- Diệu kế, diệu kế.
- Cái này dùng để trị tụi thợ lặn, bọn bay còn có kế sách gì nữa hong?
- Bẩm, ta dùng tụi thuyền chài dàn hàng ngang chèo vô sát bờ hồ tụi làng Nam, vừa bắt cá, vừa ca hát chẹn đường đánh cá của tụi nó. Cả quãng hồ dài của tụi nó chừ như cái hẻm hẹp téo, xe phòng cháy chữa cháy vô không lọt cho tụi nó tức ứa máu chơi
- Cái này cũng là diệu kế. Làng ta quả lắm bậc túc trí, đã có Lượng nay lại có cả Du. Mừng thay, mừng thay

Nói chuyện lý Toét một đêm đang thiu thiu ngủ mơ thấy một ông lão cổ quái mặt đỏ au cứ lúi húi sau gốc chuối không biết làm gì. Đêm sau, lại đêm sau nữa Toét ta cũng vẫn mơ vậy.
Trong bụng giận lắm nghĩ ta nhìn thấy tụi đái đường nhiều lắm hay sao mà cứ mơ thấy suốt, hỗn loạn quá.
Bèn đem chuyện kể với Xệ. Xã xệ bảo:
- Me too, cũng đang tính kể cho quan bác nghe
Thấy sự trùng hợp, cả hai cùng ra bụi chuối đào lên thì thấy dưới chôn một quyển sách còn mới, bìa vẽ trâu vàng hồ Tây bên trong có câu thơ con cóc:
- “Đồ chơi đắt giá
Không dùng oánh nhau
Chỉ để đánh võng.”

Toét, Xệ chụm đầu bàn bạc hồi lâu rồi nói:
- Cảm tạ Thành Hoàng Tổ đoái thương

Hồ cá, một buổi chiều đẹp, hai thợ lặn làng Nam thực hành buổi lặn độc lập không có huấn luyện viên làng Bắc lần thứ 2.
Hai chú bơi tới gần vùng rất nhiều mỏm đá nhỏ, tương truyền là đuôi cũa con rồng trắng bỗng thấy khí lạnh bốc lên ngùn ngụt.
Vùng này nằm trên đường thẳng với ngọn đồi cao nhứt của huyện, nếu kéo dài đường thẳng nầy sẽ tới điểm sâu nhứt trong hồ, nơi hà bá, bạch tuộc chân dài sinh sống.
Đường thẳng nầy xưa Cao Biền gọi là đại địa mạch, rất xung yếu. Nay 2 chú nhờ có đồ lặn hitech nên mới ra được tới vùng này ngắm nghía.
Ku ếch nói với ếch em:
- Tau thấy ghê ghê
Vừa dứt lời bỗng thấy 06 chàng thợ lặn im lìm bơi tới gần. Ếch em hoảng quá loạng choạng. Ba thợ lặn lạ mặt kè sát ếch anh. Thốt nhiên nước hồ đen kịt và một tấm lưới cá phủ lên mấy thợ lặn lạ.
- Chuồn gấp thôi ku em
Vừa nói tới đó ếch anh và ếch em bị một xoáy nước lớn đánh văng đi. Cuống quit một lúc thì thấy bến làng Nam .
- Thoát rùi anh, tạ ơn trời đất
Thì ra, theo cẩm nang của cụ tổ dạy. Hai thợ lặn mang kèm theo bình mực để khi gặp nguy hiểm phun ra bắt chước con mực cho đối phương không nhìn thấy gì nữa, kế đó vung lưới ra quấn chân quấn tay tụi kia rùi lặn trốn về nhà gấp.
Tuy vậy, thợ lặn lạ quá lão luyện và đông. May nhờ luồng xoáy bất thần mà thoát. Cho nên mới ngộ ra rằng hay cũng còn cần hên.
Hai hôm sau, thấy cả huyện đồn ầm lên có hai thợ lặn làng Giữa bị bạch tuộc chân dài kéo xuống vùng nước sâu, mất tích.
Chỉ lý Toét, xã Xệ và võ sư làng Giữa biết đầu đuôi câu chuyện nhưng âm thầm không nói.
Không biết sau rùi làng Nam có còn cho thợ lặn đi bắt cá hay luyện ngón trâu húc nữa không thì chưa thấy chuyện nói tới.

Lý Toét Xã Xệ chơi internet
Lại nói chuyện làng Nam , kể từ đận hai người nhái làng Giữa mất tích thì không khí có phần lo lo. Tụi võ sư làng Giữa suốt ngày sai thanh niên dàn hàng ngang bơi thuyền sát bờ làng nam khiêu khích, gấu ó. Một số trai làng nam ra đứng chửi nhau còn bị tụi kia lôi cổ, đánh cho một trận. Đến khi thả cho về thì đã bó lê bò càng, đám vợ ở nhà cứ nơm nớp lo chuyện mấy anh bị cắt chim.
Nguồn cơn của mối lo này do có trai làng nam khi cưởi nhau với trai làng bắc đã vạch chim đứng đái rùi cười khe khe, rống lên rất tiểu nhưn rằng:
“ Vũ quá Bắc hải”
Tức là mưa lụt biển bắc.
Cũng là chuyện thanh niên con nít thui nhưng do ghét nhau thành ra to chuyện.
Sắp hội làng, nhân thể đình làng mới bắc mấy ngọn đèn mới điều chỉnh bằng vi tính (tức là không cần nút bấm mà xài phần mêm để điều khiển tắt bật sáng tối) Xã Xệ, Lý Toét rủ đám tham miu ăn mừng kiêm nhiệm luôn bàn miu tính kế.
Mở màn, Xệ bẩu:
Tình hình rất căng thẳng, mấy hổm rày sứ làng giữa là thằng Thùng Sai nói sai lung tung cả, đòi mấy bãi đất giữa hồ suốt.
Ta thì trước tụi nó gây sự ở đường lên huyện, đã bị nó tẩn cho một trận rùi. Ta biết sức ta, nịnh nó suốt mà tụi nó nghĩ mình yếu cứ cà khịa suốt. Nói tóm lại là suốt suốt.
Ta cũng khôn lắm chớ, cương nhu đủ cả vậy mà tụi vớ vẩn cứ nói ta là bún thiu.
Chúng đồng thanh hỏi:
Ta cương sao, ta nhu sâu?
Lý Toét nheo mắt trả nhời:
Ta nhu như là đi tu, như vầy.
Đường lên huyện ta đi sát zô lề, không nhìn mặt tụi thanh niên khiêu khích, tóm lại lầm lũi đi lầm lũi zìa.
Mời tụi làng giữa qua đào củ chuối khu ngon nhứt là đầu làng, giữa làng. Có thằng rách việc nói tụi nó qua yểm bùa phá làng nam. Thằng đó bẩu làng nam như hình người đờn bà, tụi làng giữa nhân việc đào củ chuối, củ nâu tìm đúng âm hộ mà đóng cọc cho tiệt nọc.
Ngay việc cỏn con là đào cống rãnh ta còn kêu chúng qua làm, tạo công ăn việc làm cho chúng.
Đứa con nít nào ghét, chửi đổng ta cũng la rầy, bắt cha mẹ nó đóng cửa dạy con.
Hàng mã bên đó tràn sang quá trời, ta chỉ có chút củ chuối đối ứng nên…
Cái đó kêu bằng thâm hụt buôn bán, chứng tỏ sức làng ta yếu nhớt, chẳng biết làm ăn gì?
Có thằng tham miu buột miệng nói hớt.
Lý Toét:
Tau ghét nhứt mấy thằng nói leo, mấy năm nay không bị chửi nên nhờn mặt a.
Còn cương. Ta cương như bác sỹ Cường, như vầy:
Mua đồ lặn, diều máy từ làng Bắc, khua chiêng giong trống, khối làng khác sợ.
Thư ký rụt rè:
Có đứa nói ta theo thuyết duy thực tự vệ. Ta mua đồ chơi, người khác ngờ lòng tốt của ta nên cũng mua đồ chơi. Ai cũng nghĩ mình mạnh, mình nhiều đồ chơi thì càng an toàn, không ai dám rớ vô nhưng sự thực ngược lại, chỉ béo mấy làng bắc, làng đông.
Lý toét thở dài
Đúng zệy, mình ít xiền, mua được 1 thì tụi làng giữa, làng bên mua 5 mua 6, toàn đồ khủng, theo không lại. Nghèo đúng là hèn thiệt.
Ta còn chiêu bánh tẻ, tức không nhu không cương.
Mấy đứa tủm tỉm cười. Mới chi, chiêu Chí Phèo ăn vạ thui mà.
Quả nhiên.
Ta phái lâu la đi khắp huyện, nhưng đi tới đâu họ cũng bẩu mới tiếp người làng giữa. Cũng thua tụi nó, thiệt là:
Vai mang túi bạc kè kè,
Nói quấy nói quá người nghe ầm ầm.
Thôi, tình hình vậy đó, ai có miu chi thì nói, hỏng cần giữ lễ.
Cả phòng lặng ngắt, hồi lâu có đứa phat biểu:
Hay ta cầu đảo cho nước dâng ngập quách mấy miếng đất nướng cá đi.
Kế Thủy tinh đó là chờ sung rụng, không ổn.
Cả bọn ồn ào, hồi lâu, rút cục toàn kế linh tinh hoặc hô khẩu hiệu.
Toét, Xệ ngồi nghe thừ hết cả mặt, chán.
Bỗng nhiên bóng đèn khi lu khi tỏ. Cả bọn trố mắt, đứa phụ trách mắc đèn mặt tái dại.
Khoảng 10 phút sau Toét nói
Thôi đèn đuốc vầy nghỉ cho khỏe.
Còn lại Toét, Xệ. Toét mới nói với Xệ
Bác ạ, tui nghĩ ra cách rùi, vừa có đừa hác kơ báo em.
Thì ra Toét vốn lính thong tin nên đọc được ký hiệu móc xờ, người như Toét kể cũng hiếm, nhớ thuộc được nghề từ thửa hàn vi.
Nó nói sao?
Nó giới thiệu tên là E Giong, hứa bày cách, hẹn gặp ở tiệm nét nhưng phải tuyệt đối bí mật.
Y hẹn, hai người gặp E Giong.
Thì ra, trai này vốn nủi tiếng từ lâu, 3 năm liền ngồi lỳ tiệm nét mà ba mẹ không biết cậu đi đâu. Tuy vậy, trai chơi gem rất tài nên đông xiền, có dư xiền mua cả đông trùng hạ thảo uống đều đều nên nhìn vưỡn ngon lành.
Ba người trò chiện rất tâm đắc. E Dong trình diễn cho Toét xệ cách hác zệ tin, thong tin hình ảnh kín, nóng nom rõ rõ là.
E Giong nói:
Nếu thả sâu vi rút zô máy tụi nó, bị lộ liền, có khi tụi hác kờ làng giữa nó truy ngược làm mình liệt luôn. Nhưng tui có con đông trùng hạ thảo rất lợi hại, máy tụi làng giữa thấy còn hoan nghinh, coi như anh em một nhà nên chỉ cần có kế mà thôi.
Toét Xệ vò đầu bứt tai tìm kế. Chợt Xệ ợ một cái rõ to
Tui nghĩ ra rùi. Trưởng nhóm võ sư làng giữa tên Đào Mỏ là đứa dậy thì trễ nên rất quậy, ngang tàng phách lối, thích chơi ép kẻ yếu, rất vô đạo.
Y ta không sợ trời sợ đất nhưng nghe đồn lại sợ ma, hồi chưa dậy thì tè dầm suốt, rất khai sau cứ chữa thẹn mãi là khai phóng.
Mà nhà y ở là nhà cổ, vốn do cụ làng nam làm kiến trúc sư trưởng nên ta cứ chiêu giỏi nhứt là đánh zô lòng người. Hổng chiến mà người tự khuất.
Ba tháng sau, một tối Đào Mỏ về phòng ngủ, trước khi ngủ bật phin mát lên giải trí, hồi lâu mệt mỏi ngủ thiếp.
Đang gà gật Đào Mỏ bỗng trợn trừng mắt nhìn vô góc. Có một cụ già tóc trắng không râu, tay cầm hai hòn bi ngồi tự bao giờ. Đào Mỏ lắp bắp
Người là ai?
Hỏi vậy chứ thực trong bụng muốn kêu cận vệ tới bắt ngay lão già nhưng nghĩ lại thoi phần vì quần ướt phần vì thấy ông kia già cả, không có vũ khí.
Ta là Nguyễn mỗ, trước xây nhà này. Báo ngươi biết, dân làng nam là con cháu ta, ức hiếp quá thì ta sẽ hỏi tội người.
Hôm sau, Đào Mỏ ban lịnh khai phóng, xá cho dân làng Nam bằng cách rút trai làng giữa về làm việc khác.
Làng Nam nhờ đó trời yên bể lặng, không biết được bao lâu.
Thì ra sâu đông trùng hạ thảo của E Giong dựng được hình ảnh 3D trong không gian, cũng nhờ hôm đó Đào Mỏ bật máy tính coi phim nên kế mới mỹ mãn.
Cũng hôm sau, không ai biết E Giong đi đâu, người bảo đi chơi gem, kẻ bảo đi tu trên in tờ nết.

The last Xẩm

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/nghe-nhan-ha-thi-cau-nam-canh-vo-vo-nhung-la-tho-than-n20130304145415541.htm
Đọc lại ghi chép của nhà báo Đào Tuấn

Nghệ nhân Hà Thị Cầu: Năm canh vò võ những là thở than
(Thethaovanhoa.vn) - Bà Cầu đương say lắt lư bên nhà hàng xóm. Cái say lặt lẹo qua những bước đi. Cái say ngất ngưởng qua cái cách bà tong tả hất khăn vén áo véo von gọi: Vào đây! Vào đây! Chúng tôi giấu chai rượu vào trong áo, nhặt cho bà chiếc dép rồi theo đôi ống cao ống thấp ấy đi vào ngôi nhà xẩm nằm còm cõi ven đường. Cái không khí xẩm bắt đầu từ những bước chân của cụ bà 78 tuổi đương say rượu Hà Thị Cầu, nguyên một người xẩm chợ, nghệ nhân hát xẩm đương đại ấy.






Mái tranh vọc vạch, cửa lớn cửa bé mở thông thống. Trong nhà, ngôi nhà bé hơn bất cứ ngôi nhà nào ở vùng Yên Mô, Ninh Bình này, chỉ có một chiếc đài con con “ai đó đã tặng”, hai chiếc niêu một nấu cơm, một kho cá mèo, và tất nhiên, một cây nhị. Cây nhị bóng màu mồ hôi, bịt hồ bằng mảnh da kỳ đà bằng bàn tay, là cái thứ đặc sắc nhất trong ngôi nhà này. Đây không phải là cây nhị cha truyền con nối. Cây đó, thực ra nhị cũng chẳng có gì gọi là cổ vật, đã mất lâu rồi.Cũng có một đận, người ta xin bà đem cây nhị lên Hà Nội trưng bày, bà ở nhà kéo nhị làm bằng vỏ lon bia. Nhị đó thì tiếng cứ xạch xè như cái đài hết pin, không hát được. Có khách đến, Bà Cầu say rượu lôi cây nhị ra từ trong một chiếc túi vải và bắt đầu cò ke. Một ngày bà ba nửa chén rượu, cái thứ chén đương đại tróc men, sứt vành thường úp lên trên bậu cửa sổ. Một ngày bà ba nửa bát cơm chỉ đủ sức để say lắc lư. Đôi bàn tay bé như tay trẻ con lắc lư trên cần nhị, đôi con hoen rỉ bậu trên khuôn mặt một ngàn đường đau khổ lắc lư, cái đầu lắc lư và bàn chân se sẽ nhịp xuống mấy chiếc bậu giường cũng lắc lư nốt.

Cứ để bà hát một lúc hết say rượu thì mới nói chuyện được, người hàng xóm khuyên. Bà uống từ bao giờ? Lúc nào mà bà chả uống, nhưng dạo này dặt dẹo suốt nên hay say. Mà bây giờ say say bà mới hát. Trên bức tường, sát nơi bà nằm treo la liệt những tấm ảnh cũ, những tấm lịch cũ, những tấm giấy khen cũ. Giấy khen của Đài Tiếng nói Việt Nam cho nghệ nhân Hà Thị Cầu. Bằng khen của Sở Văn hoá thông tin Ninh Bình cho “thí sinh Hà Thị Cầu”.


Đấy là năm 1998, khi Bà đã ngoài bảy mươi tuổi. Bà treo dường như là để ngôi nhà bớt cô quạnh hơn là để khoe thiên hạ. Nhà chỉ có hai mẹ con, cùng giống đàn bà. Nó quạnh, nó vắng. Mỗi người một giường. Mặt quay vào tường. “Chẳng ai nói với ai được tiếng nào. Cứ hễ nói một câu là nó cuốc (quát). Không biết là tại mình già hay tại nó già”.

Tiếng nhị lại thở dài sườn sượt. Mận có biết hát, biết kéo nhị không? Không biết đâu. Dạy nó ngồi được năm phút thì dùng dằng ném nhị vào xó nhà. Nó không có hoa tay, không kéo được. Nó không biết uống rượu, không hát được. Chỉ biết đá chó, quát bà thôi. Hoa tay thế nào? Bà Cầu xoè tay. Bàn tay nhỏ nhắn còn đỏ son, mềm mại. “Đây này, cái bàn tay tôi, cái tai tôi, thầy bói bảo có tướng mệnh phụ phu nhân”. Thế mà đi làm vợ xẩm! Con thì chẳng chịu lấy chồng.Đương cơn say, Bà Cầu hát mãi, từ bài nọ kéo sang bài kia: Bác mẹ sinh thành. Ơn Đảng ơn Bác, Tứ hải giao tình, Liễu giao tình. Tiếng nhị cò ke chạy trước đuổi sau, khi đệm, lúc nhại. Lạ thật, tất cả những câu nói nhịu đã biến sạch khi cây nhị lên tiếng.


Bà Cầu bắt đầu cuộc đời hát xẩm đau khổ từ khi còn bé tí tẹo. Đấy là những ngày ngồi trên quang gánh của người cha dặt dẹo đầu đường xó chợ. Người cha loà, đứa con tóc vàng xơ như rơm. Ký ức không có gì nhiều ngoài một vài bữa cơm no đến nhớ đời. 16 tuổi, người xẩm đi lấy chồng. Người chồng cũng phường hát sẩm, cũng loà. Người hát xẩm dường như có chung một đặc điểm là xấu. Ông cụ thân sinh ra bà Cầu bị loà mắt, người đen như củ súng. Tới ông Mậu, trùm xẩm Yên Mô, bố của cái Mận cũng mặt rỗ nhằng nhịt dấu vết của đậu mùa, mắt cũng loà. Còn bà Cầu thì cứ nhìn cô con gái hơn bốn chục tuổi đầu chưa chồng của bà là biết.

Nhưng xẩm lại là giống đa tình. Ông Mậu năm lấy bà đã 49 tuổi và đã có tới 18 vợ rải khắp cả Thanh Hoá, Ninh Bình, thậm chí lên cả trên xứ Mường, xứ Lạng (các vùng Hoà Bình, Lạng Sơn) bây giờ. Bà Cầu, bấy giờ tóc đã kịp xanh, nói là về với ông Mậu chứ thực ra là theo bầu đoàn thê tử của chồng lang thang khắp đất người:Áng phong lưu son phấn đoạ đày/ Thay đen đổi trắng để anh rày yêu thương/ Dẫu may ra tán tía, tán vàng/ Mười phương thiên hạ xem thường có vào đâu/ Tấm thân em chẳng nghĩ mặc dầu…
Xẩm của bà Cầu là xẩm chợ, nhưng bà cũng hát được xẩm cô đào. Ấy là bắt đầu từ một đêm mưa nào đó dưới gốc cây bàng ở chính chợ Yên Mô bây giờ. Chẳng có cưới xin gì. Cũng chẳng ai nói gì với ai. Chỉ dưới gốc bàng thế là bà theo ông. Thế là thành chồng thành vợ. Thế là có ba đứa con. Ông lão Mậu mắt loà, mặt rỗ nắn đàn bầu theo điệu lý giao duyên, lý hành vân để cưa cô con gái mười sáu tuổi dưới gốc cây bàng, rõ ông lão đa tình. Hồi đầu năm, bà có nói chuyện ông lão hay mù chúa ghen với mấy anh “nhà báo Tây”, tức là chuyện ông lão ghen bà bị bọn khách trêu ghẹo ném đồng xu vào ngực, tối đó ông lão “về” trách:“Gieo mình xuống sạp còn lo nỗi gì/ Chợ tỉnh Đông một tháng sáu phiên/ Có cô hàng xém kết duyên vừa rồi/ Hàng cô những quế cùng hồi/ Có mẹt bồ kết, có nồi phèn chua”.

Đấy là xẩm cô đào, đấy là xẩm ghẹo gái, trách bà sao không nhớ những ngày dưới gốc bàng. Bà nói đến đây thì cây nhị cười hà hà, mắt nom rõ là tình tứ.

Bà Cầu tất nhiên không biết chữ, lại có tật nói nhịu. Chẳng hạn bà bảo từ sáng đến giờ mới được có hai “chó”, tức là mới được có hai chén (rượu). Bà hỏi bằng hát, trả lời cũng bằng hát. Chẳng hạn khi gặp chúng tôi, bà hỏi “Anh này rõ là người Nhật này”, lại hát lẩy Kiều “Người đâu gặp gỡ làm chi”. Tiếng hát xẩm đã ở trong máu của bà, thành thói quen, thành ngôn ngữ hàng ngày.

Bà hát được nhiều điệu xẩm, và trở thành nhân vật chính trong phim phóng sự tài liệu “Xẩm” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, được đi Trung Quốc biểu diễn và gần như là nghệ nhân hát xẩm cuối cùng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nói về đận đi này, bà cười như trẻ con. Đấy là bà cười vì người ta cho bà mặc áo mớ ba mớ bảy. Lúc vào khách sạn, áo nó loè xoè quá, nó mắc vào cửa, không dứt ra được. Đến lúc tắm xong thì lại không biết mặc vào thế nào. Bà bảo hồi đó người ta không cho bà uống rượu, mà bây giờ lạ thế, không có tí ti vào là không hát được. Đận đó, bà có hát nhưng hát không ra xẩm nữa.


Ngôi nhà có thêm ít người hàng xóm. Bà Cầu ra vào, chanh chua, gào thét, đùa nghịch và cuối cùng thì lại cò cưa kéo nhị. Câu chuyện quay sang cái Mận, con gái bà. “Đấy, nó là cái đứa áo dài đứng một mình nom rõ xinh đấy. Mấy đứa, có đứa nào chưa vợ bà gả cho. Mà có vợ rồi cũng được”.

Cô Mận không có nhà. Cô Mận ở nhà là cô Mận đã qua photoshop môi đỏ toe toét đương đứng nghiêng như cành tre để làm duyên. Con bé xấu quá, không như tôi. Tôi chỉ mỗi tội mắt có “ve”. Ngày xưa, có nhiều đám hỏi nó lắm. Tôi bảo “Cái thằng đó được, ngoan ngoãn hiền lành”. Nó gắt “Xấu như ma ỏm”. Tôi bảo “Đàn bà nó có thì, như cái cánh hoa ấy”. Nó quát “Bu đi mà lấy”. Bà Cầu ôm nhị hát lên cái lời than của mình: “Vắng đàn ông quạnh nhà, như cây hoa mà không có con ong”. Tiếng nhị víu vít sõng sượt như tiếng thở dài như dòng chảy lặng lẽ của những giọt nước mắt.

Có người bảo tiếng nhị của Bà lúc nào cũng thổn thức. Đấy là cái tâm của bà không khi nào được nhàn, số của người hay lo. Ngày xưa thì lo áo cơm. Tiếng nhị than khóc cho thân phận. Tay kéo nhị đã chai, việc kéo nhị đã thành nghề, đến nói câu gì cũng phải có tiếng nhị đưa đẩy, đối đáp, thế mà cũng không quen được. Mà khổ, cái âm của nhị là cái âm chẳng có thanh véo von. Cứ lay lắt lay lắt thế thôi.


Còn bây giờ tiếng nhị theo tâm trạng của bà suốt ngày thở dài vì đứa con hư chẳng chịu lấy chồng. Ôi chao, sao cái tâm trạng người đàn bà không chồng nó mới cô quạnh làm sao, cô quạnh như tiếng gió đập phên nứa phành phạch mỗi đêm, như ánh trăng xuông sáng trong đến văn vắt ngoài cửa sổ.


Trách thân mà lại giận trời/ Trách chàng quân tử tỏ ra người thờ ơ/ Phòng không để thiếp đợi chờ/ Năm canh vò võ những là thở than.
Câu chuyện cứ miên man theo tiếng nhị léo lắt. Bà Cầu hát mãi, hát mãi. Cây nhị cứ mãi thở than, thở than như thể dòng trường ca cuộc đời đang tuôn tràn. Khi chúng tôi nói lời chia tay, cụ bà say rượu Hà Thị Cầu còn bật dậy ôm cứng lấy từng đứa, miệng hét lên lanh lảnh: Không cho về, không cho về. Bà dường như không muốn dứt nhịp, không muốn cất lại cây nhị vào vỏ. Bạn tôi đưa tặng bà một chai rượu với một đồng tiền thủng lỗ. Cụ bà ôm nhị theo sát đến bên xe thì thào, líu nhíu “Có gặp cái Mận thì đừng nói cho bà rượu”. Lại nói thật to cho hàng xóm cùng nghe thấy “Bà không có được ai cho xu cắc nào đâu đấy nhé”, đoạn lén quay sang ngắm chai rượu màu đỏ sẫm như màu mận đa giấu trong áo từ bao giờ.

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Người là quý nhất

Thị trường chứng khoán (Trung tâm giao dịch chứng khoán) đi vào hoạt động 7/2000.
Để chuẩn bị cho nó đã có các hoạt động sau:
- Ủy ban chứng khoán thành lập 10/1996, đi vào hoạt động 1998. TTGDCK thành lập 1998. Kể từ đó khoảng 70 người của UBCK và 40 người TTGDCK học tập nghiệp vụ (chuyên gia Hàn Quốc hướng dẫn), soạn thảo các văn bản pháp quy như nghị định, thông tư, hướng dẫn giao dịch...
- Lấy trụ sở 45-47 Bến Chương Dương (ngân sách cấp 50 tỷ). Đến khi hoạt động đặt sàn giao dịch tại nhà B (nay đã phá đi, đang xây mới). Nhà chính làm nơi để xe, 2006 mới sửa xong chuyển trung tâm qua đó.
- Hệ thống giao dịch: CT đầu tiên Lê Văn Châu muốn có hệ thống giao dịch hiện đại như các nước, ý định chưa thành thì về hưu. CT Nguyễn Đức Quang thay chỉ có khoảng 10 tháng để có phiên giao dịch đầu tiên.
- Vậy là liên hệ qua mối quan hệ cá nhân mượn hệ thống giao dịch của Thailand, họ đồng ý cung cấp phần lõi giao dịch. Cử chuyên gia sửa theo yêu cầu của VN và ta chỉ phải trả tiền ăn ở đi lại cho chuyên gia (mãi tới 2006 khi trung tâm thu phí giao dịch mới ký hợp đồng bảo trì hệ thống với Thailand, nghĩa là mới trả tiền). 
Phần lưu ký, đăng ký, thanh toán bù trừ do FPT viết. Bảng điện thì Taiwan cho. Nhớ hệ thống điện sàn giao dịch nhà B ta cũng dùng phần điện âm tường có sẵn, sau bên PCCC yêu cầu ta mới lắp bình chữa cháy tự động ở sàn.

Theo lý thuyết thì trung tâm vận hành từ:
- Qui chế
- Con người
- Hệ thống giao dịch
Ta chuẩn bị sẵn, kỹ về qui chế, người. Hệ thống giao dịch đi mượn. Người xây nên qui chế. Vậy có thể nói xây dựng TTCK VN đã theo đúng phương châm người là quí nhất. 

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Kiều Hưng - ca sỹ số 1 thời bao cấp

Kiều Hưng tài hoa vậy nhưng không biết buôn bán nên thật khổ.


http://vietbao.vn/Van-hoa/Gap-lai-Kieu-Hung-tai-hoa-va-luu-lac-o-Hannover/70029322/181/


Mười mấy năm rồi mới được nhìn thấy ông, ca sỹ Kiều Hưng , nghe lại giọng hát còn nguyên cái chất ngọt ngào, da diết, truyền cảm như thủa tôi thường nghe Rặng trâm bầu, Về thăm mẹ, Tình ca…



Ca sĩ Kiều Hưng (phải) và tác giả trước nhà hát thành phố Hannover
Trong chuyến đi công tác sang Đức cùng đoàn cựu học sinh Việt Nam đầu tiên tại Moritzburg tháng trước, tôi đã đến thành phố Hannover và gặp ca sỹ Kiều Hưng.

Người nghệ sỹ ấy ngày ngày vẫn cặm cụi sáng tác, đi hát cho cộng đồng người Việt xa xứ với nỗi niềm đau đáu về quê hương…


Xuống tàu điện đã thấy ông đợi sẵn ở bến, đưa chúng tôi về nhà. Mười mấy năm rồi mới gặp lại Kiều Hưng, dường như ông bé nhỏ đi nhiều so với hồi còn ở nhà. Nhìn ông lúi húi đi trước dẫn đường trong chiếc áo jacket rộng thùng thình, cảm giác xót xa chợt dâng lên trong lòng.

Ngôi nhà Kiều Hưng ở nằm trên con phố nhỏ yên tĩnh Eliserstrasse có rất nhiều cửa hàng bán hoa và đồ lưu niệm xinh xắn. Chắc hẳn ông đã phải lựa chọn chán trước khi quyết định chuyển về đây vào năm 1996. Trước năm ấy, kinh tế khó khăn nên ông phải thuê một căn nhà nhỏ ở mãi ngoại ô.

Một người đồng hương hâm mộ giọng hát Kiều Hưng từ khi còn ở Việt Nam thấy vậy đã cất công đi tìm nhà cho ông. “Thiên nhiên, hoa cỏ làm cho tâm hồn người nghệ sỹ đẹp thêm nhiều.” - Ông bảo thế. Và có lẽ khu phố này là nơi ở thích hợp nhất với tính cách của ông, nhẹ nhàng và trầm lắng.

Căn nhà này đã trở thành chỗ qua lại thân thiết của các nghệ sỹ từ trong nước sang biểu diễn. Anh em nghệ sỹ nào qua đây cũng được Kiều Hưng đón về nhà: Nghệ sỹ Trần Bình - Giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, gia đình nhạc sỹ Trần Tiến, mới đây là Quang Thọ, Thanh Hoa, Đức Long…

Phòng khách rộng rãi, sạch sẽ và ngăn nắp. Chiếc đàn organ được đặt ngay cạnh cửa sổ nhìn ra đường, nơi hàng ngày ông vẫn ngồi tập hát và sáng tác. Tôi cứ thấy tiếc mãi cho Kiều Hưng rằng bao nhiêu năm ca hát, nhưng ông không mang theo được gì ngoài một cuốn băng video ca nhạc do Đài THVN thực hiện năm 1992.

Cuốn băng được thực hiện khá sơ sài với một số bài hát làm nên tên tuổi của Kiều Hưng: Về thăm mẹ, Rặng trâm bầu, Tình ca, Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người… Từ ngày vợ ông về Việt Nam, ông sống một mình và phải lo tất cả các việc cho cuộc sống độc thân.

Thường thì cứ đến 2 ngày nghỉ cuối tuần, cậu con trai Kiều Hải lại đưa vợ con về thăm bố. Kiều Hải sinh năm 1976, đã có thời kỳ học nhạc ở Nga rồi theo bố sang Đức. Vợ Hải lúc nhỏ ở trại trẻ mồ côi rồi sau đó được một người Đức đến xin làm con nuôi đưa về nước. Hai vợ chồng vẫn đang theo học ở Nhạc viện Hannover.

Nghe kể cuộc sống của Kiều Hải còn chật vật lắm. Hai vợ chồng và một đứa con đang phải sống chủ yếu nhờ trợ cấp xã hội. Thỉnh thoảng anh vẫn đi chơi nhạc thuê cho một số ban nhạc ở khắp nước Đức. Mỹ Hương - Con gái với người vợ trước của Kiều Hưng may mắn hơn. Cô sang Mỹ học và lập gia đình luôn bên đó. Lễ cưới của cô được tổ chức tại khách sạn Melia Hà Nội năm ngoái. Lần ấy, Kiều Hưng cũng về dự đám cưới con gái.

Buổi chiều, ông dẫn chúng tôi đi ăn tối ở nhà hàng Việt Nam, cùng dãy phố. Kiều Hưng gọi cho chúng tôi món vịt rán, còn mình chỉ ăn đậu phụ xào nấm. Chứng cao huyết áp hành hạ nên ông phải ăn kiêng. Ông tình cờ phát hiện ra mình mắc chứng bệnh này trong lần đi biểu diễn ở Mỹ với Ái Vân.

Gần đây, chứng thoái hóa cột sống thỉnh thoảng lại hành hạ, hễ cứ đi bộ được một lúc là người lại đau nhức. “Chẳng biết lúc được về, có còn đủ sức biểu diễn cho khán giả nữa không?” – Kiều Hưng thở dài. Sáng nào ông cũng đi bộ đến bể bơi cách nhà không xa, tập bơi chừng một tiếng đồng hồ. Ông vẫn âm thầm chuẩn bị cho ngày về.

Cứ nhắc đến cơ hội được về hẳn và biểu diễn phục vụ khán giả trong nước, đôi mắt có nhiều nét buồn phảng phất của ông lại như sáng lên. “Sắp đến tuổi cổ lai hy rồi. Giờ chú chỉ mong mỏi ngày về hát cho đồng bào mình nghe. Hai lần về nước, chú vui lắm vì khán giả vẫn còn nhớ đến mình”.

- Đơn từ chú gửi đi các nơi đến đâu rồi? – Tôi hỏi về kết quả giải quyết nguyện vọng hồi hương của ông.

- Chưa thấy gì cả. Có vị đại biểu Quốc hội mời chú đến cơ quan hứa sẽ trao đổi vấn đề này với các cấp lãnh đạo, nhưng đến giờ vẫn chưa thấy hồi âm gì.

- Chú có đề nghị gì không?

- Chú mong muốn Nhà nước xem xét cho hoàn cảnh chú phải ra đi. Ra đi một cách tự nhiên chứ chú không bất mãn, không có thù oán gì. Cả đời chú chỉ làm nghề đi hát nên ở đây thỉnh thoảng chú cũng đi hát cho cộng đồng, thế thôi.

Năm 1999, khi biểu diễn bài Thằng Bờm, ca sỹ Ái Vân phải tìm một người đóng vai phú ông cùng hát với mình. Nhưng các ca sỹ hải ngoại chỉ quen lối hát uỷ mị, không thể hiện được những bài mang đậm chất dân ca, lành mạnh và kịch tính.

Biết chỉ có Kiều Hưng mới đảm nhận được vai này, Ái Vân đã đề xuất với nhạc sỹ Phạm Duy (mới hồi hương cùng con trai) gọi điện mời ông sang Mỹ biểu diễn. Sau đó, trung tâm Thúy Nga Paris có đề nghị ông hát thêm một số bài để thu băng tiếp ở Mỹ, Kiều Hưng đã từ chối.

“Chú là người được đất nước cho ăn học thành người, đã hát quen dòng nhạc cách mạng, dân ca nên không thể tiếp tục nhận những bài hát thuộc dòng nhạc khác”. Cách đây vài ngày, ông vừa từ chối lời mời hát chung với Khánh Ly ở Munich. Với nguồn thu nhập chính chỉ dựa vào số tiền trợ cấp xã hội ít ỏi, những lời từ chối ấy chắc chắn phải là sự cân nhắc rất kỹ càng.

Ấy vậy mà hiếm có liên hoan văn nghệ nào của cộng đồng người Việt ở phía Đông nước Đức lại thiếu tiếng hát của Kiều Hưng. Ông chẳng quản ngại đi hàng trăm cây số về Berlin, Leipzig, Magdeburg đáp ứng lòng yêu mến của lớp người từng hâm mộ Kiều Hưng từ khi còn ở trong nước.

Anh Nguyễn Văn Mạc - Chủ tịch Hội Đức – Việt ở Magdeburg - kể, lần Kiều Hưng hát ở Leipzig phục vụ khán giả Việt Nam, rất nhiều người Đức tham dự đã xúc động đồng loạt đứng dậy hát vang bài dân ca Đức cùng ông. Cuộc thi tìm kiếm giọng ca Việt triển vọng trên toàn LB Đức tổ chức vào cuối năm nay có danh sách Kiều Hưng trong ban giám khảo.

Ông sẵn sàng “vác tù và hàng tổng” giúp sinh viên Việt Nam ở Hannover dàn dựng những dàn đồng ca đến 50 người mỗi dịp lễ, Tết. Vì thế mà sinh viên Việt Nam ở đây ai cũng biết và quý trọng ca sỹ Kiều Hưng.

…Trước khi tiễn chúng tôi lên đường sau một ngày hàn huyên, Kiều Hưng hát tặng chúng tôi bài Nhớ quê do ông sáng tác, phỏng ý thơ của Thái Công Khanh. Tiếng hát cất lên da diết kỳ lạ như đang gửi gắm những tâm sự chất chứa bao nhiêu tháng năm của một người nghệ sỹ lưu lạc đang đau đáu về quê hương.

“Tôi ở nơi đây có những chiều nhớ nhung vời vợi/Mẹ thân yêu ước gì con được về quê cũ đắm đuối trong lời hát mẹ ru/Tôi nhớ quê tôi có sông sâu thuyền ghe tấp nập kề bên nhau/Đầu làng náo nức vui phiên chợ gồng gánh bên nhau chật xóm cầu/(…)/Tôi ở nơi đây nhớ lắm rồi có đêm trằn trọc lệ tuôn rơi/Có chiều thơ thẩn lòng tê tái có lúc thấy mình sống lẻ loi/(…)/Ước gì gặp lại người xưa cũ, nghe nói bây giờ vẫn ngóng trông…”.

Leipzig - Hà Nội, tháng 11/2005

Ngô Văn Hải


http://vietbao.vn/Van-hoa/Kieu-Hung-Tai-hoa-va-luu-lac/70019685/181/
Không chỉ bươn trải trong Nam, ngoài Bắc, nghệ sĩ tài hoa Kiều Hưng còn sống những ngày tháng lận đận long đong ở nước ngoài. Trong đó sang nước Nga là bước ngoặt lớn đầu tiên.



Nghệ sĩ Kiều Hưng
Hồi Kiều Hưng còn công tác tại Nhà hát Ca múa nhạc nhân dân TW, ông được mời dạy thêm hệ tại chức khoa Thanh nhạc, Nhạc viện Hà Nội. Nghệ sĩ Mai Khanh là trưởng khoa.

Học sinh tại chức giọng hát khá hạn chế, nhưng nhờ thầy nhiệt tình, trò cố gắng nên trong số đó có các ca sĩ như Mạnh Hưng, Tiến Hỷ... sau này đã giành được danh hiệu NSƯT. Như vậy, dù phải về hưu, nhưng chí ít ông cũng còn hy vọng có việc làm ổn định, phù hợp với chuyên môn.
Nhưng trước đây có lần đến nhạc viện, Kiều Hưng nhận được lá thư nặc danh, nội dung đại khái như sau: “Anh Kiều Hưng thân mến. Vừa rồi khoa Thanh nhạc họp, có ý kiến nói anh là soloist của nhà hát, đã được đi biểu diễn nhiều, nay còn được dạy thêm ở nhạc viện. Bây giờ thầy nhiều, trò ít, người ta định cho anh nghỉ. Vì lòng quý mến đối với anh, xin thông tin lại để anh biết...”.

Kiều Hưng mỉm cười: “Có thể người viết thực lòng quý mình, cũng có thể họ muốn làm cho mình biết khó mà rút lui... Tôi cầm lá thư lên gặp ông Nguyễn Văn Thương khi ấy vừa là giám đốc nhà hát của tôi, vừa là giám đốc nhạc viện. Lúc ấy trong phòng có cả anh Trung Kiên, người mới thay anh Mai Khanh làm Trưởng khoa Thanh nhạc. Hai người đọc xong, anh Trung Kiên không nói gì. Ông Thương bảo: “Anh để thư này lại cho tôi”. Bẵng đi một thời gian dài, không thấy ai nhắc tới lá thư đó nữa, tôi đành cho qua”.

Kiều Hưng tiếp tục tìm đến Viện Âm nhạc. Anh thấy mình còn có khả năng hát ca trù và ngâm thơ để tự tiến cử với nhạc sĩ Tô Vũ. Ông Vũ bảo Kiều Hưng hát thử. Nghe xong, ông Vũ khen: “Được lắm. Nhưng bên mình cũng làm gì có... biên chế”.

Không thể bó tay ngồi yên, nhóm nghệ sĩ tuy hết tuổi cơ quan nhưng vẫn còn sung sức tuổi nghệ thuật: Mạnh Hùng, Hữu Xuân, Bích Liên, Xuân Nhung, Đinh Thìn, Kiều Hưng... tìm đường Nam tiến, vào miền đất vốn năng động và cởi mở với những thực tài.

Ở Sài Gòn, khi nào kiếm được một show diễn nghiệp dư, nhóm nghệ sĩ miền Bắc lẫy lừng một thuở tập hợp nhau lại. Họ phải ở nhờ nhà tập thể của một công ty đường sắt...

Đang lúc lang thang chưa biết bấu víu vào đâu, Kiều Hưng bất ngờ gặp lại một người bạn học cũ là bà Ca Lê Hồng (bà Hồng là chị em với nhạc sĩ Ca Lê Thuần và nhà thơ, liệt sĩ Ca Lê Hiến - Lê Anh Xuân). Với sự giúp đỡ của bà, Kiều Hưng được làm giảng viên lớp Đại học Thanh nhạc dân tộc của trường Nghệ thuật sân khấu 2. Vì dạy môn này nên Kiều Hưng biết thêm... hò Đồng Tháp!

Thế nhưng khi lớp học kết thúc, không đủ kinh phí mở lớp mới, Kiều Hưng phải chuyển sang dạy thanh nhạc cho một lớp cải lương hệ B. Bấy giờ hệ B mang nặng tính thương mại, tuyển rất đông học sinh. Phần đông các ca sĩ tương lai này chỉ đến trường để trốn nghĩa vụ hoặc đi học... cho vui.

Với một người lao động nghệ thuật chuyên nghiệp như Kiều Hưng thì tình trạng này khiến ông vô cùng chán ngán. Điều an ủi duy nhất là, nhờ dạy ở đây mà ông được phân nhà. Đó là căn buồng tập rộng vỏn vẹn 6m2.

Khi ông đón vợ và 2 con từ miền Bắc vào mới được linh động bổ sung thêm một phòng tập rộng 6m2 nữa, vậy là 12 mét. Nếu ta nhớ lại thời gian cách đây gần 20 năm ở Sài Gòn nhà cửa không quá khan hiếm như ngoài Hà Nội thì gia đình Kiều Hưng 4 người ở một diện tích như vậy quả là quá khiêm tốn.

Năm 1991, chị Việt Bắc (vợ ca sĩ Kiều Hưng) trúng tuyển đi nghiên cứu sinh ở Nga. Một cơ hội mới mở ra với cả gia đình. Đã từ lâu Kiều Hưng muốn đi học tiếp. “Lớn tuổi rồi, nếu không hát được nữa thì học xong mình sẽ về nước đi dạy...” Như vậy ở thời điểm đó, Kiều Hưng đã tính đến bước lùi.

Kiều Hưng tư lự: “Năm ấy tôi cùng các con sang thăm nhà tôi. Nhờ có thư giới thiệu của bà giáo cũ ở Kiev, tôi được nhận vào trường Đại học Văn hóa tổng hợp Matxcơva. Ở đây tôi đã gặp vợ chồng người bạn cũ là anh Tôn Thất Chiêm và chị Xuân Thanh”. Có thể nói cuộc gặp gỡ này là bước ngoặt khiến cuộc đời của Kiều Hưng rẽ sang hướng khác mà ta sẽ nói đến ở sau.

Ngoài giờ học, bộ ba này lập thành một nhóm tham gia các chương trình công - xe (concert) của nhà trường. Liên Xô tan rã, chi phí học tập (không nhỏ) họ đều phải tự trang trải. Bộ ba nhận thêm hợp đồng biểu diễn phục vụ cộng đồng người Việt từ khắp nơi đổ về Matxcơva ngày một đông.

Thời kỳ ấy có thể gọi là thời hoàng kim của những người VN sang Nga buôn bán. Trước đó một, hai năm, mua chiếc máy tính XT ở Việt Nam với giá cắt cổ hơn 1000 USD, mang sang Nga dễ dàng bán với giá cao gấp đôi, gấp rưỡi! Còn nếu bạn đi từ Ba Lan sang Matxcơva, chỉ cần “trông hộ” một giàn máy vi tính, sẽ có người mua tặng bạn vé tàu; đến nơi lại có người đưa đón, và bạn sẽ được nhận thù lao hai vé dễ như bỡn.

Sau này thì ào ào áo gió ra quân, rồi áo thêu, áo phông, quần lót bông hồng, đồng hồ điện tử, son môi, bút chì kẻ mắt... ở nhà giá khá bèo, sang bên ấy lập tức biến thành vàng, thành đôla. “Đôm” 5, “ốp” Vòng bi, Búa liềm, Saliut... trở thành những trung tâm thương mại tấp nập. Các soái (chữ dùng để suy tôn những người giỏi buôn bán hoặc được phỏng đoán có tài sản trên 1 triệu đôla) người Việt liên tục xuất hiện.

Nhưng Kiều Hưng không phải tạng người biết lợi dụng thời thế để làm ăn. Trong không khí nóng bỏng tiền tiền tiền thời bấy giờ, ông chỉ là một kẻ “vô tích sự”.



Kiều Hưng, Xuân Thanh đang biểu diễn tại Leipzig 1995
Hồi ấy tôi có nhiều cơ hội qua lại nước Nga, nghe tin đồn Kiều Hưng mới bị trấn lột. Những tên cướp người Việt tống ông lên xe ô tô bịt kín, đưa vào rừng và thất vọng khi nhận ra cái người ăn mặc bảnh bao kia hoá ra chỉ là một anh nghèo kiết với vài chục rúp trong túi.

Thậm chí chúng đã định nện nạn nhân một trận cho bõ tức nếu không có kẻ trong bọn nhận ra ông đây chính là ca sĩ Kiều Hưng! Hôm đó chúng đã làm một việc “tử tế” hiếm hoi là chở Kiều Hưng quay lại metro gần nhất khi ông ấp úng nói mình không biết đường về.

Khi tôi hỏi ông thực hư chuyện này, Kiều Hưng chỉ cười: “Việc ấy thì có, nhưng đã bị thêu dệt thêm ít nhiều”. Ông trầm ngâm: “Hồi còn sống, bà cụ tôi thường bảo: May mà mày còn có giọng hát, chứ không có giọng thì đẻ chẳng biết mày làm được cái gì!” Chị Việt Bắc có một định nghĩa ngắn ngọn về chồng: “Cuộc đời anh, gói gọn lại thì chỉ có 3 chữ “H”, “A”, “T” - hát !”

Lớ ngớ giữa thời buổi kinh tế thị trường sôi sùng sục như thế thì khó mà tồn tại được. Nhưng cái khó chẳng bó được cái khôn. Nhóm ba người nảy ra sáng kiến. Ông Tôn Thất Chiêm vốn là người tháo vát và biết tiếng Pháp khá. Ông tìm thấy thông báo về các cuộc thi công - cua âm nhạc quốc tế vốn chẳng có người Việt nào thèm quan tâm dán khắp nơi ở thủ đô Matxcơva. Nhóm ba người đến ĐSQ nước chủ nhà xin đăng ký dự thi.

“Các cuộc thi đều hạn chế tuổi thí sinh dưới 30. Tôi bấy giờ đã hơn 50, nên phải khai thấp đi hơn hai chục tuổi. Vì người Việt mình có nét mặt trẻ so với người châu Âu, nên họ không biết, cho visa liền. Nhưng đến khi vào thi, có nơi đã phát hiện ra mình quá tuổi. Ở Phần Lan, mới hát xong bài đầu tiên tôi đã bị họ mời xuống. Ở Pháp người ta cũng biết tôi lớn tuổi, nhưng vì tôi hát thành công một bài aria rất khó nên họ để cho được vào vòng trong...”

“Ông có được giải gì không ?”

“Tôi lớn tuổi rồi... chỉ Xuân Thanh được mấy giải be bé”.

Mục đích của việc đi thi là để có visa vào các nước, có giải thì tốt, không có giải cũng chẳng sao. Thi xong, nhóm ba người tranh thủ thời gian còn lại biểu diễn phục vụ cộng đồng người Việt. Tuy không thể làm giàu, nhưng vẫn còn được làm nghề và có tiền tiêu là quý lắm rồi.

“Một lần đi thi chúng tôi bị hải quan cửa khẩu Lvốp giữ lại. Họ hỏi: “Các anh đi đâu, làm gì mà mỗi người chỉ có một cái vali nhỏ thế này?” - Tôi thay mặt đáp: “Chúng tôi là nghệ sĩ đi thi công - cua quốc tế!”. Cả nhóm hải quan phá lên cười ngặt nghẽo: “Qua cửa khẩu này chỉ có người Việt đi buôn thôi. Nghệ sĩ! Ha ha!”.

Họ nghi chúng tôi giấu hàng quốc cấm trong nhạc cụ nên bảo: “Nếu các anh chứng minh được mình là nghệ sĩ thì chúng tôi sẽ cho đi qua”. Cái này đối với chúng tôi không khó. Anh Chiêm đánh đàn, tôi cất tiếng hát một bài dân ca Ucraina quen thuộc. Cả nhóm hải quan đứng vây quanh ngỡ ngàng vỗ tay theo nhịp. Tôi chuyển sang hát tiếp một trích đoạn trong vở opera Evghênhi Ônhêgin. Mấy anh chàng hải quan xua tay: “Thôi, thôi, pass, pass... (cho qua)”.

Tháng 12/1994.

Lần này bộ ba đi thi ở Ý. Nhưng chuyến đi lại không thật như ý. Chẳng những không được giải mà việc tìm show diễn cho cộng đồng người Việt cũng không thành công. Trên đường về Matxcơva, họ có mấy tiếng transit qua thủ đô Berlin.

Trước khi sang Ý, ở sân bay Sheremenchievô xảy ra một chuyện bất bình thường. Khi làm thủ tục tại công an cửa khẩu, vợ chồng ông Tôn Thất Chiêm dễ dàng được cho qua, nhưng đến Kiều Hưng thì hộ chiếu bị giữ lại. Giờ bay sắp đến gần mà vẫn không thấy ai đả động gì. Vợ chồng ông Chiêm ở bên trong sốt ruột vẫy tay rối rít ra hiệu. Cực chẳng đã, Kiều Hưng đành đến gặp mấy anh công an Nga trình bày, kèm theo món tiền lót tay 50 đô.

Họ trả lại hộ chiếu cho ông và cũng không nói lí do vì sao. Đây chính là điểm mấu chốt hơn 10 năm lưu lạc trên nước Đức của Kiều Hưng mà mãi đến khi bị bắt ông mới biết.

Vợ chồng ông Tôn Thất Chiêm chưa về Nga ngay, muốn ghé vào thăm em gái ông Chiêm là nghệ sĩ piano Tôn Nữ Nguyệt Minh đang định cư ở Đức. Hai người sợ Kiều Hưng buồn nên rủ ông đi cùng, tiện thể làm luôn mấy show diễn cho cộng đồng người Việt ở đây.

Mới đầu Kiều Hưng từ chối. Thế nhưng vốn tính cả nể, vả lại thấy vợ chồng ông Chiêm nhiệt tình quá nên ông xiêu lòng. Ông không biết rằng mình đang đột nhập vào nước Đức bằng visa quá cảnh.

Sau một thời gian thăm thú và biểu diễn ở Berlin, không muốn làm phiền gia đình Tôn Nữ Nguyệt Minh, Kiều Hưng đi thăm người quen ở Munich. Ngày thứ Năm, ông định quay lại Berlin để về Nga, thế nhưng mọi người giữ lại nói, để đến thứ Bảy hãy đi vì vào các ngày lễ vé sẽ được giảm giá.

Thứ Bảy mọi người đưa ông ra ga, vẫy tay chào tạm biệt. Còn nửa tiếng nữa mới tới giờ tàu chạy, Kiều Hưng lang thang trên sân ga, ghé vào kiốt xem mấy quyển tạp chí. Bỗng từ đâu xe cảnh sát Đức ập tới. Họ đòi kiểm tra hộ chiếu của Kiều Hưng rồi lạnh lùng tống ông lên xe.

Trên xe đã có mấy người Rumani, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Tư... ngồi sẵn. Tất cả được đưa tới một khu nhà tập thể. Người ta phát chăn gối và cho mỗi người một suất ăn rồi lặng lẽ bỏ đi. Không biết tiếng Đức nên Kiều Hưng chẳng hiểu mô tê ra làm sao, đành phó mặc cho số phận.

Sáng hôm sau, Kiều Hưng được đưa lên phòng thẩm vấn. Nhà chức trách Đức xì xồ một hồi. Nghe phiên dịch xong, Kiều Hưng toát mồ hôi. Hoá ra căn phòng hôm qua ông ở chính là một trại tị nạn! Người ta thông báo cho ông biết ông đã nhập cư bất hợp pháp vào nước Đức, rằng ông đã vi phạm luật pháp của Đức v.v...

Cuối cùng viên chức nọ hỏi nguyện vọng Kiều Hưng muốn gì ? Ông đáp: Trở lại nước Nga. Viên chức nọ cầm quyển hộ chiếu của ông lên và trả lời: Không thể được. Hộ chiếu của ngài đã hết hạn. Mặc dù thái độ của viên chức người Đức khá nhã nhặn, nhưng từng lời anh ta nói, Kiều Hưng nghe như sét đánh ngang tai.

Bấy giờ ông mới hiểu lý do vì sao bị biên phòng Nga giữ lại ở sân bay Sheremenchievô không cho làm thủ tục xuất cảnh. Thì ra khi ấy hộ chiếu của ông chỉ còn thời hiệu là 10 ngày, về nguyên tắc ông sẽ không được rời nước Nga với quyển hộ chiếu như thế.

Anh lính biên phòng đã linh động sau khi nhận tiền lót tay mà không cho khổ chủ biết tai họa đang chờ ở phía trước. Như vậy, khi từ Ý trở về, cho dù Kiều Hưng không dừng lại ở Đức một thời gian thì thực tế anh cũng không thể vào nước Nga được nữa vì hộ chiếu đã hết hạn.

Kiều Hưng lại đề đạt nguyện vọng mới: Ông xin được về Việt Nam. Nhà chức trách trả lời: Nếu đưa ông về được VN thì chúng tôi nhẹ quá. Nhưng ông đến đây từ nước Nga, theo luật pháp của Đức, chúng tôi chỉ trả tiền vé cho ông quay lại Nga, chứ về VN thì chịu. Nhưng về Nga thì hộ chiếu của ông đã hết hạn.

Đi mắc núi, về mắc sông, đúng là họa vô đơn chí. Kiều Hưng bắt đầu thấy núng, không biết phải làm gì. Nhà chức trách chỉ ra một lối thoát duy nhất trong tình thế này: Kiều Hưng phải xin tị nạn ở Đức.

“Lúc ấy tâm trạng tôi rất hoang mang. Nhớ gia đình, bạn bè, người thân, Tổ quốc. Nhưng cho dù tôi không muốn ở lại nước Đức thì cũng chẳng thể đi đâu được nữa. Thôi thì cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu...”.

Nghe Kiều Hưng lẩy Kiều, tôi tự hỏi, có phải câu thơ đã ứng vào hơn 10 năm lưu lạc (và còn chưa biết bao giờ mới kết thúc) của ca sĩ họ Kiều trên đất Đức hay không ?

(Còn nữa)

Hữu Việt

http://vietbao.vn/Van-hoa/Kieu-Hung-sap-ve-voi-que-huong/70004584/181/

Gia đình nghệ sĩ Kiều Hưng tại Hannover (Đức) năm 2004
Trở về trước Tết 1 tháng từ Đức, nghệ sỹ Kiều Hưng dành toàn bộ thời gian thăm thú bà con nội tộc và tảo mộ các cụ. Lần trở về này ông tranh thủ thu thập tư liệu và có thể sẽ thực hiện một album Kiều Hưng trong năm 2005 tại quê hương.

Giọng ca mượt mà, tình cảm của NSƯT Kiều Hưng thế hệ 7X chúng tôi hầu hết đều biết và mê. Hồi đầu những năm 80 khi đài phát thanh còn chiếm thế độc tôn, chúng tôi mỗi lần muốn nghe một chương trình nào đều phải ra khỏi nhà, đến đầu con ngõ gần cây cột điện, nơi có chiếc loa hình cái loa kèn.

“Tiếng đàn bầu”, “Rặng trâm bầu”, “Chiếc nón bài thơ”, “Tình ca Tây Bắc”... chan chứa tình yêu quê hương qua giọng ca Kiều Hưng đã đi vào tâm hồn chúng tôi một cách tự nhiên.

Chừng hơn 1 tháng trước, chiều đông Hà Nội đang trong một đợt rét ngọt, cơ quan tôi (DIHAVINA) đón một người khách lạ - một người đàn ông thấp bé, hơi mập, sáng sủa, ăn nói điềm đạm và rất gần gũi say sưa đủ thứ chuyện về ca hát, về những vùng đất xa xôi, về tâm tư của những người con xa Tổ quốc. Kiều Hưng. Trở về nước lần này ông dành toàn bộ thời gian thăm thú bà con nội tộc và tảo mộ cho các cụ, ấy cũng là một trong những lý do ông không đi thăm được bạn bè nghệ sĩ.

Kiều Hưng rủ chúng tôi tới nhà bà Kiều Thị Mão, đã 79 tuổi, hơn ông đúng 10 tuổi nhưng trong dòng họ, Kiều Hưng là chú ruột. Bà Mão vào chuyện: “Họ hàng nhà tôi bây giờ chủ yếu ở HN, nhưng về ruột thịt thì chỉ có tôi và chú Hưng là gần nhất thôi, chú ấy lại là con trưởng nên từ ngày chú tôi đi, tôi ở nhà thay chú làm hết. Chú tôi đi sang bên ấy, các em đều thành đạt nên tôi cũng mừng, nhưng vẫn muốn chú thím tôi trở về”.

Kiều Hưng thực sự đang dần từng bước thực hiện kế hoạch trở về sinh sống tại Hà Nội. Vợ chồng ông vừa mua một ngôi nhà trong ngõ Hào Nam trước Tết Nguyên đán. Ngôi nhà đang trong giai đoạn hoàn thiện nội thất. Ngoài biểu diễn, ông mong sẽ được trở lại giảng dạy, và cộng tác với các trường nghệ thuật tại Hà Nội.

Thời gian ở Đức, nghệ sĩ Kiều Hưng thỉnh thoảng hát phục vụ bà con Việt kiều, nhưng giờ ông dành thời gian sáng tác ca khúc. Anh con trai cả Kiều Hải đang giảng dạy âm nhạc chuyên nghiệp tại Hannover đầu tư một studio nho nhỏ để hai cha con cùng ghi âm những ca khúc ông sáng tác.

Lần này ông đã thu thập nhiều tư liệu và các tuyển tập ca khúc mang sang bên ấy, có thời gian ông định chọn ra những bài phù hợp để tập, và có thể sẽ thực hiện một album Kiều Hưng trong năm 2005 tại quê hương.

Bà Kiều Thị Mão có người con gái là nghệ sĩ múa Mai Khanh từng là sinh viên xuất sắc của Trường Múa VN được cử sang Nga du học, từng đoạt nhiều giải thưởng múa quốc tế tại Nga, hiện vẫn gắn bó với nghề này và rất thành danh tại Canada. Loanh quanh thế nào hoá ra Kiều Hưng và bà cũng là họ hàng với nghệ sĩ Trần Hiếu, Trần Tiến. Bà nói tự hào về người chú ruột: “Chú Hưng hát vẫn còn hay lắm, ở bên ấy hơi phí, về nhà có điều kiện biểu diễn hơn”.

Nguyễn Quang Long